Reference
Plotviethuyensuky

Việt Huyền Sử Ký

Hạt Mầm Ánh Sáng

Hãy cùng nhắm mắt lại để sự tối đen bao phủ chúng ta. Để tâm trí trống rỗng, cùng trở về thuở Hỗn Mang. Khi mà chưa có loài người, sinh vật hay cây cỏ. Chưa có núi sông hay biển. Chưa có trời đất hay các vì sao. Tất cả chỉ là tối đen mịt mùng và lạnh lẽo. Thậm chí thời gian cũng chưa được đếm nhịp. Mọi thứ cứ như vậy không biết trôi qua bao lâu, ngàn năm, triệu năm, tỷ năm... không ai biết.

Bỗng từ nơi tối tăm sâu thẳm nhất, một ánh sáng le lói xuất hiện, chợp sáng, chợp tắt. Khi lại gần sẽ thấy rõ ràng hơn. Đó là một hạt giống có ánh sáng êm dịu. Ánh sáng này như màu sắc của cầu vồng, cứ nhịp nhàng lưu chuyển theo từng nhịp đều đặn. Và từ đó thời gian bắt đầu đếm nhịp.

Phía bên trong Hạt Giống Ánh Sáng là một thế giới êm đềm với vô vàn các linh hồn đang cuộn tròn ngủ say. Có linh hồn xanh thẳm như biển sâu, có linh hồn đỏ rực như lửa, có linh hồn trắng tinh khôi như tuyết và còn vô vàn các linh hồn khác với đủ màu sắc rực rỡ. Tại tâm của hạt giống là các linh hồn khổng lồ vĩ đại hơn cả, các linh hồn này như chứa đựng luồng sức mạnh vô tận nhưng lại vô cùng dịu dàng. Hơi ấm và ánh sáng từ các Linh Thần Khổng Lồ Vĩ Đại toả ra một cách nhịp nhàng đều đặn tựa như một điệu hát của cha mẹ ru con.

Cùng thời điểm hạt giống ánh sáng xuất hiện thì từ những nơi tối tăm sâu thẳm khác cũng xuất hiện những cái bóng dường như còn tối đen, sâu thẳm và lạnh lẽo hơn cả. Chúng ghét ánh sáng và hơi ấm, chúng cứ lang thang vô định khắp nơi, như muốn dập tắt hết ánh sáng và hơi ấm. Chúng muốn giữ cho mọi thứ mãi mãi chìm trong bóng tối và lạnh lẽo.

Rồi một ngày chúng tìm thấy Hạt Giống Ánh Sáng. Từ bốn phương tám hướng, các Bóng Tối Sâu Thẳm dần dần tụ tập, bao vây lấy Hạt Giống Ánh Sáng. Chúng dùng sự tối tăm và khí tức lạnh lẽo của mình để bao phủ lấy Hạt Giống Ánh Sáng. Sức ép khủng khiếp đè nén lên vỏ của Hạt Giống Ánh Sáng. Từng luồng khí tối tăm lạnh lẽo không ngừng đập lên vỏ của Hạt Giống Ánh Sáng. Chúng muốn phá vỡ lớp vỏ để chui vào bên trong, để dập tắt hết ánh sáng và hơi ấm, để nuốt chửng lấy các linh hồn đang ngủ say bên trong.

Phía trong hạt giống, các linh hồn bị rung lắc chao đảo dữ dội. Rồi bỗng một tiếng rắc vang lên mang theo nỗi sợ hãi. Một vết nứt nhỏ xuất hiện trên vỏ hạt giống. Rồi vết nứt cứ thế lan tràn. Hơi thở tối tăm lạnh lẽo của các Bóng Tối Sâu Thẳm len lỏi vào bên trong hạt giống. Các linh hồn đang ngủ say bắt đầu cảm thấy lạnh lẽo và sợ hãi. Chúng co cụm lại với nhau, cố gắng giữ chặt lấy nhau để sưởi ấm cho nhau. Nhưng hơi lạnh cứ thế len lỏi vào, làm cho chúng ngày càng co cụm lại, ngày càng sợ hãi hơn. Chúng bắt đầu cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức. Chúng không biết phải làm sao để chống lại hơi lạnh này. Chúng bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng.

Hơi lạnh chạm đến tâm hạt giống, nơi nhửng Linh Thần Khổng Lồ Vĩ Đại Đang ngủ say. Các Linh Hồn này cảm nhận được mối nguy hiểm đang đến gần và sự sợ hãi run rẩy của các linh hồn bé nhỏ. Một sự rung động nhẹ từ tâm hạt giống. Những nhịp điệu nhỏ từ các Linh Thần Khổng Lồ Vĩ Đại bắt đầu nhanh hơn, mạnh hơn. Hơi ấm cũng từ đó lan toả ra xung quanh, sưởi ấm các linh hồn bé nhỏ. Ánh sáng cũng sáng dần lên, từ êm dịu, dần dần chói chang rực rỡ vô cùng như thể muốn xua đuổi hết bóng tối và lạnh lẽo xung quanh.

Các Bóng Tối Sâu Thẳm nhận thấy điều này. Chúng càng điên cuồng hơn. Chúng gom hết khí tức lạnh lẽo tối tăm lại dồn nén vào Hạt Giống Ánh Sáng, định một lần dập tắt hết tất cả. Chiếc vỏ hạt giống dưới sức ép khủng khiếp như bị thu nhỏ đi một nửa, vết nứt lan rộng khắp nơi, chỉ trực vỡ vụn. Hơi ấm và ánh sáng vừa lan tràn lại bị đè ép thu nhỏ hơn nữa. Mọi thứ đang đứng trước việc một lần nữa chìm vào bóng tối và lạnh lẽo vĩnh hằng.

Đúng lúc này, một âm thanh vừa trầm thấp lại cũng sắc lạnh vang lên từ lõi của hạt giống. "Hmmm, iiiii...". Hạt Giống Ánh Sáng bung nở. Ánh sáng chói loà che lấp hết mọi thứ. Trong khoảnh khắc, xung quanh không còn gì khác ngoài ánh sáng. Các Bóng Tối Sâu Thẳm bị đánh tan và đẩy lùi đến những nơi xa xôi nhất.

Vô vàn linh hồn ánh sáng lấp lánh bay ra khắp muôn nơi, tạo nên những dải ngân hà và những vì sao rực sáng.

Tuy nhiên, sau giây phút loé sáng rực rỡ chói loà để bảo vệ mầm sống, các Linh Thần Khổng Lồ Vĩ Đại đã cạn kiệt sức lực. Ánh sáng dần thu lại dịu êm, trôi bồng bềnh giữa những dải ánh sáng vừa sinh ra và chìm vào một giấc ngủ rất dài.

Các thiên thần bé nhỏ
Ngủ trong hạt mầm xinh
Vang khúc nhạc an bình
Tựa nhịp đàn êm ái.

Bỗng lạnh lùng kéo tới
Cùng bóng tối bủa vây
Mưu toan dập tắt đi
Hạt mầm của sự sống.

Vỏ hạt dần nứt vỡ
Thiên thần nhỏ lạnh run
Linh thần vươn sức mạnh
Toả hơi ấm che chở.

Hạt nở bừng ánh sáng
Ngân hà toả rạng ngời
Bóng tối mãi lùi xa
Mầm sống nở muôn đời.

Khai Thiên Lập Địa

Không biết bao nhiêu vạn năm đã trôi qua. Tại một khoảng không gian mù mịt. Linh Thần Khổng Lồ Vĩ Đại thức giấc. Tại nơi đây khí nhẹ và khí nặng quện chặt lấy nhau, đất và trời dính liền như một mớ bùng nhùng. Cảm nhận thấy cứ thế thì sự tối tăm, lạnh lẽo của Hỗn Độn sẽ quay trở lại một lần nữa. Linh Thần Khổng Lồ Vĩ Đại bèn dùng sức mạnh của mình để đẩy khí nhẹ lên cao làm Trời, nén khí nặng xuống thấp làm Đất. Nhưng mỗi lần Linh Thần đẩy Trời lên cao thì chẳng bao lâu Trời và Đất lại quấn chặt lấy nhau thành một mớ Hỗn Độn.

Sức ép này là do Bóng Tối Sâu Thẳm dùng lực Hỗn Độn mà sinh.

Linh Thần thấy không thể chỉ dùng linh khí mà phân định trời đất. Thần bèn trước tiên thu thập khí nhẹ, khí nặng xung quanh. Dùng ngọn lửa linh hồn, tự thân luyện hoá khí Hỗn Độn. Phân tách khí nặng, khí nhẹ lần lượt tạo ra trái tim, khung xương, mạch máu, da thịt... Hết một vạn tám ngàn kiếp thì thành hình một thân hình Thần Khổng Lồ.

Thân hình thành cũng là lúc Trời Đất phân chia. Nhưng những Bóng Tối Sâu Thẳm vẫn không ngừng gây sức ép. Trời cứ muốn xà xuống, Đất cứ muốn dâng lên hoà vào nhau một lần nữa.

Thần khổng lồ đứng dậy, ngẩng đầu đội trời, rồi tự mình đào đất, đập đá, đắp thành một cái cột vừa cao, vừa to để chống trời. Hễ cột được thần đắp cao lên chừng nào thì trời như một tấm màn rộng mênh mông được nâng dần lên chừng ấy. Thần hì hục vừa đào vừa đắp, chẳng bao lâu, cột đá cứ cao dẫn, cao dần và đẩy vòm trời lên mãi phía mây xanh mù mịt.

Từ đó trời đất phân ra làm hai. Đất phẳng như cái mâm vuông, trời ở trên như cái bát úp, chỗ giáp giới giữa trời và đất gọi là chân trời.

Những vụn đá từ cột đá rơi xuống tạo thành những ngọn núi. Nơi thần đào đất thì lõm xuống tạo thành biển rộng.

Khi cột đá thành, thần lại tiếp tục dùng ngọn lửa linh hồn để luyện hoá biến cột đá thành một cây gậy thần. Lại mất thêm một vạn tám ngàn kiếp nữa. Thần gọi tên đây là Gậy Trụ Trời. Cũng từ đó thần mới có tên Thần Trụ Trời.

Thần nghĩ chỉ có khi đánh tan sức ép của Bóng Tối Sâu Thẳm thì Trời Đất mới có thể phân định vĩnh viễn. Thần bèn gầm một tiếng:"Hmmmm, Hây Yaaaaa". Thần nhấc Gậy Trụ Trời lên múa một vòng cho thuận tay rồi bay vào không gian nơi có các Bóng Tối Sâu Thẳm đang gây sức ép.

Chín chín tám mươi mốt gậy vung lên đánh bay bay hết tám mươi mốt Bóng Tối Sâu Thẳm vây quanh về tận rìa của vũ trụ.

Khi các Bóng Tối Sâu Thẳm bị đánh tan, nhận thấy ngọn lửa linh hồn của mình quá mạnh lại vương nhiều khí tức Hỗn Độn khiến các Linh Thần khác không thể thức giấc, vạn vật không thể sinh sôi. Thần không quay trở về mặt đất nữa mà hoá thân thành một ngọn lửa rực rỡ trên bầu trời. Mặt hướng về mặt đất mà coi sóc bảo vệ. Nên từ đó về sau, sinh linh dưới đất gọi ngọn lửa lớn đó là Mặt Trời. Thần toả ra hơi ấm và ánh sáng xuống mặt đất, giúp các Linh Thần khác dần dần thức giấc.

Thần Sông, Thần Núi, Thần Biển, Thần Mặt Trời, Thần Mặt Trăng, Thần Gió, Thần Sét... và rất nhiều vị thần khác dần dần thức giấc. Linh khí của các vị thần lan toả khắp nơi, vạn vật sinh sôi nảy nở.

Vì vậy, dân gian có câu hát còn truyền đến ngày nay:

Thần Đếm cát
Thần Tát bể
Thần Kể sao
Thần Đào sông
Thần Trồng cây
Thần Xây núi
Thần Trụ Trời.

Tham khảo: [1] Thần thoại Bàn Cổ [2] Thần Trụ Trời [2] Genesis - GA 122 - Rudolf Steiner

Rồng xuất hiện

Thuở sơ khai, khi các thần thức giấc. Linh khí từ các thần đều còn rất hỗn loạn. Khiến tính khí các thần cũng thất thường vô cùng.

Thần Sét là một vị thần có hình thù kỳ dị, tính tình nóng nảy vô cùng. Một lời không hợp liền quát tháo ầm ĩ. Tiếng thần quát tháo: "Đì Đùng, Đì Đùng..." vang động khắp trời đất. Khiến các sinh linh vô cùng sợ hãi. Khi ra tay, thần tạo ra những tia chớp rực rỡ, xé toạc màn đêm, soi sáng cả một vùng trời rộng lớn. Thần thường xuất hiện với một chiếc rìu đá trên tay không rõ để làm gì, khi xong trận chiến, thần chẳng thèm cầm về mà vứt luôn lại đó. Thế nên ngày nay người ta thường thấy những tảng đá có hình thù kỳ lạ, đó chính là những chiếc rìu của Thần Sét.

Thần Sét có một em song sinh tên là Thần Mưa. Thần Mưa có tính tình trái ngược với Thần Sét. Thần Mưa hiền lành, ôn hòa, luôn mang đến sự mát mẻ, dễ chịu cho vạn vật. Thần Mưa thường xuất hiện với một chiếc ô trên tay, có khả năng tạo ra những cơn mưa hiền hòa hoặc những cơn bão dữ dội.

Thần Gió là vị thần có hình dáng kỳ lạ, thần thường xuất hiện dưới dạng một chiếc quạt thần nhiệm màu, có khả năng tạo ra những luồng gió hiền hòa hoặc kết hợp với thần Mưa, thần Sét tạo ra những cơn bão dữ dội. Thỉnh thoảng thần dạo chơi trên mặt đất. Đó là lúc đồng bằng nổi lên những trận gió xoáy.

Thần Núi là vị thần có sức mạnh phi thường, thân hình đồ sộ tựa non cao, thường được biết đến với khả năng dời non lấp bể và lòng nhân hậu, bao dung đối với mọi sinh linh.

Các thần như thế khiến không gian sinh tồn trên mặt đất hay trong biển cả đều vô cùng khắc nghiệt. Cũng do đấy, các loài kỳ linh dị thú cứ thế mà sinh. Mỗi loài đều có năng lực đặc biệt. Thế mới sinh tồn được.

Tương truyền, thưở xưa có loài cá chép lạ. Thân hình đồ sộ, vảy vàng óng ánh, cá thường sống trong sông. Khi sống chỉ bơi ngược dòng, khi chết mới xuôi theo dòng nước. Lại truyền rằng, ngày nọ có một con cá to lớn hơn cả, cá cứ thế bơi ngược dòng nước lên đến thượng nguồn. Tại đó cá gặp một thác nước cao đến tận trời. Thác nước từ trời đổ xuống ầm ầm, tung bọt trắng xoá, hung mãnh vô cùng. Nghĩ rằng đây là con đường lên trời, Cá bèn lấy thế vụt qua đám bọt nước, nhập vào trong dòng thác rồi cứ thế bơi ngược dòng mà lên. Con đường lên trời dài vô cùng. Cá bơi hết chọn chín chín tám mươi mốt kiếp, vượt qua vô vàn gian nan trắc trở. Khi gần lên tới nơi thì một cánh cổng lớn xuất hiện. Nhưng cánh cổng đá hoa cương nặng nề vô cùng. Xung quanh xẹt xẹt những tia sét. Cá Thần chỉ cần hơi đến gần là bị sét đánh xuyên thủng vảy thịt, lộ xương trắng hếu. Quanh người cá thần máu thịt chảy ra đỏ thẫm, hơi thở ngắt quãng, tâm trí dần mờ mịt.

Bỗng một tiếng chim thanh minh từ đâu xa vang lên, khiến cá lấy lại đôi chút thanh tỉnh. Cá Thần điều hoà lại hơi thở, lấy hết sức bình sinh, vọt lên một lần nữa. Lần này cá bay thật mạnh, những tia sét mới đầu vàng choé, sau đậm dần, dần dần mạnh lên đổi thành tím đậm không ngừng oanh kích lên thân cá. Vảy thịt cá cháy khô, thủng lỗ chổ, chỉ còn bảo trì một chút suy nghĩ. Cá định dùng đầu đập thẳng vào cửa đá, dẫu biết cứ thế thì phải nát đầu mà chết chẳng phải nghi ngờ. Nhưng chấp niệm xuyên suốt chín chín tám mươi mốt kiếp khiến cá quyết không lui bước. Đúng lúc này cổng trời mở ra một khe hẹp. Cá lách qua khe cửa. Khi thân hình cá bay qua đến đâu, vảy thịt mọc lại đến đó, càng kiên cố hơn vô cùng. Thân hình dài ra bảy khúc, thân mọc thêm năm móng với vuốt sắc như dao. Có thể đạp lên mây, lại có thể bóp nát đá. Đầu Cá mọc sừng, râu dài có thể tạo sét không kém gì các vị thần linh. Cá Chép đã Hoá Rồng.

Rồng thần quyền năng vô cùng. Rồng có thể biến hóa thành người, bay lên trời, lặn xuống nước, đi mây về gió. Rồng thống trị muôn loài dưới biển. Lại có thể đạp mây cưỡi gió bay lên trời. Hô mưa gọi gió, tạo sét không kém gì các vị Thần linh.

Rồng thần làm vua sáu sáu ba mươi sáu ngàn giống thuỷ tộc, tự xưng Long Vương, xây dựng Long Cung dưới biển. Mỗi lần Long Vương dạo chơi mặt đất cũng tạo ra gió mưa, sấm sét.

Tiên Lạc

  • Gia đình cò trắng muốt thuộc giống Hạc cao quý, sống trên cây Chiên Đàn tại đất Phong Châu - Phú Thọ ngày nay.
  • Rắn bị ô nhiễm bởi khí tức Hỗn Độn nên có nọc độc và vô cùng nham hiểm.
  • Rắn thích ăn trứng và cò con.
  • Rắn phóng nọc độc vào cò con, cò mẹ đánh rắn bảo vệ cò con nên bị nhiễm độc.
  • Cò con lớn lên thương mẹ nên bay đi tìm lửa bảy màu về chữa bệnh cho mẹ.
  • Cò con vượt muôn vàn thử thách, vác núi cương phong, bầy quạ đen...
  • Bầy quạ đuổi theo cò rất dai dẳng gây ra vô vàn khó khăn.
  • Cò con bay vào Núi Lửa tại Tây Nguyên, nơi có Lửa Bảy Màu.
  • Lửa nóng đốt cháy bộ cánh, cò không mang về được.
  • Nghe được tiếng Trời bèn bất chấp lửa nóng mà lao vào.
  • Cò cháy thành tro rồi dục hoả trùng sinh.
  • Cò hoá thành Lạc Thần xinh đẹp, toả ánh sáng trị liệu bảy màu.

Mười hai bà mụ

  • Do linh khí dưới đất hỗn loạn, Trời lo Hỗn Độn quay trở lại.
  • Trời lập Thiên Cung quản lý các vị thần.
  • Trong đó có Mười Hai Nàng Tiên.
  • Các nàng tiên lấy linh khí từ Đất Trời rồi luyện hoá theo thân hình Thần Trụ Trời.
  • Nàng tiên thứ nhất lấy Đất.
  • Nàng tiên thứ hai lấy Trời.
  • Nàng tiên thứ ba nặn đầu.
  • Nàng tiên thứ tư nặn lưng.
  • Nàng tiên thứ năm, sáu nặn bàn tay.
  • Nàng tiên thứ bảy, tám nặn chân.
  • Nàng tiên thứ chín hái sao làm mắt.
  • Nàng tiên thứ mười lấy vỏ ốc làm tai.
  • Nàng tiên thứ mười một hái hoa làm miệng.
  • Nàng tiên thứ mười hai - nàng út thổi hơi ấm khiến tim đập.
  • Trẻ mới xuống mặt đất vẫn cần các nàng tiên chăm sóc suốt năm đầu tiên.
  • Người đời biết ơn các nàng tiên nên tổ chức nghi thức cúng bà Mụ.

Thần Nông

  • Những đứa trẻ do Mười hai Nàng Tiên tạo ra dần khôn lớn và bắt đầu tự bước đi trên mặt đất.
  • Tuy nhiên, Trái Đất lúc này vẫn còn hoang sơ, con người bơ vơ sống rải rác, chịu nhiều đói rét vì chỉ biết bứt quả dại, săn thú nhỏ qua ngày.
  • Nguy hiểm hơn, một số vùng đất vẫn còn bị ô nhiễm bởi khí tức Hỗn Độn.
  • Nhiều loài cây cỏ hút phải khí Hỗn Độn trở nên có độc, con người vô tình ăn phải liền ngã bệnh mà không biết cách chữa trị.
  • Thấu hiểu nỗi thống khổ đó, từ linh khí của cỏ cây và lớp đất phù sa hiền hòa, Thần Nông xuất hiện.
  • Thần Nông mang vóc dáng uy nghi nhưng chất phác, trên đầu có hai sừng nhỏ vươn lên để giao hòa với linh khí của Trời và Đất.
  • Thần mang theo một chiếc roi thần màu đỏ, đi khắp núi rừng đập vào từng nhánh cây, ngọn cỏ để xem tính chất lành hay độc.
  • Để chắc chắn, Thần Nông đích thân nếm thử hàng trăm loại thảo mộc, phân loại rõ ràng cây nào là thức ăn, cây nào chứa nọc độc của Hỗn Độn, và cây nào là kỳ hoa dị thảo có thể làm thuốc chữa bệnh.
  • Có một lần, Thần Nông nếm phải cỏ độc tột cùng tưởng chừng nát cả tâm can.
  • Trong cơn nguy kịch, Thần tìm thấy và nhai một loại lá cây xanh biếc đọng sương mai, lá cây kì diệu này đã tẩy sạch mọi độc tố trong cơ thể Thần.
  • Sau khi vượt qua cửa tử, Thần Nông gom những hạt giống ngũ cốc thuần khiết nhất mang về cho con người.
  • Thần đẽo gỗ làm cày, dạy con người thuần hóa những sinh vật hoang dã thành trâu, bò để kéo cày bừa, xới tơi mảnh đất khô cằn.
  • Thần Nông còn dạy con người quan sát nhịp thở của ánh sáng, cách canh tiết trời, gọi Thần Mưa và Thần Sét đến đúng lúc để tưới tiêu cho mùa màng.
  • Nhờ Thần Nông, con người không còn phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên mà đã biết gieo hạt, gặt hái, sống quần tụ thành những xóm làng đầu tiên no ấm.
  • Thần hoá thành các ngôi sao trên bầu trời, tạo thành hình một vị thần đầu đội mũ chuồn, và chiếc lưng cong như đang cày ruộng vậy.
  • Đền thờ Thần Nông ở làng Phong Lệ - Hoà Vang - Đà Nẵng.

Cháu chào chú Phạm Tuân
Chú bay vào vũ trụ
Có qua bờ sông ngân
Mượn sao gàu về nhé
Đồng lúa ta đương cần!
Nếu chú gặp Thần Nông
Nhớ nói giùm: bà cháu
Vẫn kể chuyện về ông
Khom lưng ông đương cấy
Ruộng trên trời...phải không?
À,chú ơi quên mất!
Đàn vịt vàng sông Ngân
Bắt về mấy con nhé
Làm giống cho cháu chăn.

Lạc Long Quân đánh Ngư tinh

  • Nhờ có Thần Nông, con người đã có cuộc sống no ấm trên đất liền, họ bắt đầu đốn gỗ đóng thuyền, tiến ra biển khơi để đánh bắt tôm cá.
  • Thế nhưng, dưới đáy Biển Đông sâu thẳm lại ẩn chứa một mối hiểm họa khôn lường: một con Ngư Tinh khổng lồ vốn là loài thủy quái bị biến đổi do nhiễm phải tàn dư của khí tức Hỗn Độn.
  • Ngư Tinh dài hơn năm mươi trượng, thân hình to như một hòn đảo di động, chiếc miệng há ra rộng như hang sâu, vây lưng sắc nhọn như những tảng đá ngầm.
  • Mỗi khi Ngư Tinh quẫy đuôi, biển cả lại cuộn lên những cột sóng thần, gió bão gầm rú, nó tàn nhẫn nuốt chửng vô số thuyền bè và ngư dân vô tội.
  • Tiếng khóc than của con người vang vọng khắp các bãi bồi ven biển, rốt cuộc cũng thấu đến tai Lạc Long Quân – vị Thần Rồng dũng mãnh mang trong mình sức mạnh vô song của tộc Rồng.
  • Thấu hiểu nỗi đau của con người, Lạc Long Quân rời khỏi thủy cung bao la, quyết tâm trừ hại cho dân lành.
  • Nhận thấy Ngư Tinh có lớp vảy cứng như thép không vũ khí nào đâm thủng, chàng bèn dạy dân chúng cách lập lò rèn, thổi bễ, dùng lửa nung chảy quặng để đúc thành một khối sắt khổng lồ nhiều góc cạnh.
  • Lạc Long Quân đem khối sắt ấy nung trong ngọn lửa rừng rực nhiều ngày đêm cho đến khi cả khối sắt đỏ au, tỏa nhiệt nóng rẫy như một mảnh của Mặt Trời.
  • Chàng đóng một chiếc thuyền lớn, chở theo khối sắt đỏ rực, một mình gõ nhịp mái chèo tiến thẳng ra vùng biển có sóng to gió lớn để dụ quái vật.
  • Đánh hơi thấy mùi sinh vật sống, Ngư Tinh từ dưới đáy biển lao vút lên, há chiếc miệng hôi thối đen ngòm như vực thẳm định nuốt trọn cả thuyền lẫn người.
  • Ngay trong khoảnh khắc ấy, Lạc Long Quân dùng sức mạnh phi thường, hai tay vung lên ném thẳng khối sắt nung đỏ rực vào miệng con quái vật.
  • Khối sắt nóng bỏng trôi tuột xuống thiêu đốt cuống họng và dạ dày Ngư Tinh, khiến nó đau đớn gầm rú, quẫy đạp điên cuồng làm nước biển sôi sục, văng bọt trắng xóa cả một vùng trời.
  • Nắm lấy thời cơ, Lạc Long Quân rút gươm thần, hóa thân thành hình dáng Rồng uy nghi lao tới, một nhát gươm chém Ngư Tinh đứt làm ba khúc.
  • Xác con quái vật trôi dạt trên biển, được linh khí của đất trời hóa phép trở thành những vùng đất che chắn cho dân lành: phần đầu trôi vào bờ hóa thành dãy núi Cẩu Đầu, phần mình hóa thành cù lao Mạn Cẩu, còn phần đuôi bị chém đứt văng ra xa hóa thành hòn đảo Bạch Long Vĩ.
  • Từ đó, vùng Biển Đông sóng yên biển lặng, con người lại có thể giương buồm ra khơi tung lưới dưới sự che chở bình an của Thần Rồng Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân đánh Hồ tinh

  • Sau khi mượn sức mạnh của tự nhiên và trí tuệ để đánh bại Ngư tinh, con người bắt đầu mạnh dạn tiến sâu vào đất liền, dựa vào rừng núi để sinh sống.
  • Thế nhưng, ở một vùng núi đá sâu thẳm (vùng Long Biên xưa), tàn dư của các Bóng Đêm Sâu Thẳm và khí tức Hỗn Độn vẫn còn lẩn khuất.
  • Tại một hang động tối tăm, có một con Chồn tinh (Hồ tinh) sống ngàn năm, do hấp thụ khí Hỗn Độn mà tu luyện thành quái vật chín đuôi mang đầy phép thuật hắc ám.
  • Bản tính Hồ tinh vô cùng xảo quyệt, nó thường biến hóa thành những hình dáng hiền lành, giả làm người thân hoặc lữ khách để lừa gạt người đi rừng, lùa họ vào hang sâu để ăn thịt.
  • Nỗi khiếp sợ bao trùm khắp các buôn làng, tiếng khóc than một lần nữa lay động đến Thần Rồng Lạc Long Quân.
  • Dù vừa trải qua trận chiến sóng gió ngoài biển khơi, Lạc Long Quân vẫn không ngần ngại tiến sâu vào rừng núi để trừ hại cho dân lành.
  • Nhận thấy hang đá của Hồ tinh vô cùng hiểm trở, sâu hun hút như mê cung và ngập tràn khí độc, chàng hiểu rằng dùng sức mạnh đơn thuần sẽ rất khó bắt được nó.
  • Lạc Long Quân liền nghĩ ra một kế, chàng nhờ cậy đến Thần Mưa – vị thần có tính tình ôn hoà nhưng mang sức mạnh của nguồn nước dồi dào.
  • Thần Mưa vung tay, gọi những đám mây đen kịt kéo đến, trút xuống những trận mưa rào xối xả, dẫn nước từ các dòng sông đổ ập vào cửa hang của quái vật.
  • Nước lũ dâng cao ngập lụt mọi ngóc ngách trong hang tối, Hồ tinh bị sặc nước, nghẹt thở, buộc phải hiện nguyên hình là con cáo khổng lồ chín đuôi hung tợn phá cửa lao ra ngoài.
  • Ngay khi quái vật vừa trồi lên mặt nước, Thần Rồng Lạc Long Quân đã giăng sẵn thiên la địa võng, vung gươm thần xông vào giao chiến.
  • Sau ba ngày ba đêm chiến đấu long trời lở đất, Lạc Long Quân đã tiêu diệt được con quái vật xảo quyệt, giải cứu những người dân còn sống sót đang bị giam cầm trong hang sâu.
  • Trận chiến ác liệt làm hang ổ của Hồ tinh sụp đổ hoàn toàn, tạo thành một vực sâu thẳm. Dòng nước mưa trong lành tiếp tục lấp đầy vực sâu ấy, gột rửa đi mọi tàn dư của khí Hỗn Độn.
  • Vực thẳm chết chóc ngày nào giờ đây biến thành một hồ nước mênh mông, phẳng lặng và trong vắt. Người đời sau gọi nơi đó là Đầm Xác Cáo (tức Hồ Tây ngày nay), một minh chứng cho chiến công hiển hách của Thần Rồng và sự bình yên đã trở lại với mặt đất.

Lạc Long Quân đánh Mộc Tinh

  • Sau khi Đầm Xác Cáo được thanh tẩy, con người tiếp tục tiến sâu vào đất liền và đến định cư tại vùng đất Phong Châu trù phú.
  • Tại đây có một cây cổ thụ khổng lồ tên là Chiên Đàn, từng là nơi sinh sống của gia đình cò trắng muốt cao quý.
  • Tuy nhiên, trải qua hàng ngàn năm, rễ của cây Chiên Đàn đã vô tình hút phải những tàn dư cuối cùng của khí tức Hỗn Độn ẩn rải rác dưới lòng đất.
  • Cây cổ thụ dần biến đổi, cành lá trở nên xám xịt, thân cây vặn vẹo đầy gai nhọn và hóa thành Mộc Tinh – một loài mộc yêu tinh quái và tàn ác.
  • Mộc Tinh có phép thuật biến hóa khôn lường, nó có thể nhổ rễ lên để di chuyển thoắt ẩn thoắt hiện trong những khu rừng rậm rạp, dùng những cành cây như những cánh tay khổng lồ vươn ra bắt người ăn thịt.
  • Nỗi khiếp sợ bao trùm khắp Phong Châu, khiến dân lành không ai dám bước chân vào rừng đốn củi hay hái lượm.
  • Nhận được lời thỉnh cầu của muôn dân, Thần Rồng Lạc Long Quân không quản ngại gian lao, tiếp tục lên đường trừ yêu.
  • Chàng nhiều lần giao chiến với Mộc Tinh, nhưng mỗi lần chặt đứt cành lá, cây lại mọc ra nhánh mới nhờ hút năng lượng Hỗn Độn từ đất, rồi nó lại lẩn trốn mất tăm vào rừng sâu.
  • Lạc Long Quân vốn có sức mạnh của nước, không thể phát huy tác dụng với Mộc Tinh.
  • Lạc Long Quân nhận ra rằng Mộc Tinh vốn là loài sống trong bóng tối tĩnh lặng của rừng già, nó vô cùng sợ hãi những âm thanh lớn và sức nóng của ánh sáng.
  • Chàng bèn gọi dân làng lại, dạy họ cách đốn những cây gỗ thường để đục rỗng làm tang trống, căng da thú lên trên, và dùng những khối kim loại còn dư từ thuở rèn vũ khí để đúc thành chiêng.
  • Khi mọi thứ đã sẵn sàng, Lạc Long Quân dẫn đầu đoàn người mang theo trống, chiêng và những ngọn đuốc rực sáng tiến vào khu rừng nơi Mộc Tinh ẩn náu.
  • Khi quái vật vừa vươn vòi ra, tiếng trống, tiếng chiêng đồng loạt vang lên rền rĩ, mạnh mẽ như tiếng gầm của Thần Sét.
  • Âm thanh đinh tai nhức óc cùng ánh lửa bập bùng khiến Mộc Tinh hoảng loạn, run rẩy, các rễ cây co rúm lại không thể lẩn trốn xuống đất.
  • Nhân cơ hội ngàn năm có một, Lạc Long Quân đang định vung gươm thần chém đứt tận gốc rễ của Mộc Tinh, tiêu diệt hoàn toàn con quái vật mộc yêu.

Lạc Long Quân gặp Âu Cơ

  • Đúng lúc này một dải lụa bảy màu xuất hiện chặn lại đòn đánh của Long Quân
  • Tộc Bạch Hạc trở về sau chuyến di cư dài, thấy cây thần tại đất tổ của mình bị tấn công nên ra tay ngăn cản.
  • Dẫn đầu tộc Bạch Hạc là một nàng tiên xinh đẹp tên là Âu Cơ.
  • Nàng ra tay với Long Quân.
  • Đương lúc ra tay thì Mộc Tinh tấn công cả tộc Bạch Hạc.
  • Âu Cơ giao tiếp với Mộc Tinh thì biết được Mộc Tinh vốn là cây thần của tộc Bạch Hạc, Mộc Tinh đã bị Bóng Đêm Sâu Thẳm điều khiển và mất khống chế.
  • Âu Cơ dùng lửa thiêng tịnh hoá nhưng cũng đồng nghĩa với thần cây Chiên Đàn cũng sẽ chết.
  • Thần cây không oán thán mà cảm tạ vì được giải thoát.
  • Mảnh nhỏ của Thần Cây phát tán, mọc thành một khu rừng gỗ quý vĩ đại tại đất Phong Châu.
  • Âu Cơ ngại ngùng vì sự hiểu lầm nên đồng hành cùng Lạc Long Quân đi tịnh hoá những vùng đất bị ô nhiễm bởi yêu khí.
  • Bước chân Âu Cơ đi đến đâu, ánh sáng bảy màu lung linh tỏa ra đến đó, chữa lành những vết thương của cỏ cây, muông thú và tịnh hóa hoàn toàn vùng đất từng bị ô nhiễm.
  • Lạc Long Quân đem lòng cảm mến sự dịu dàng, thuần khiết và năng lực chữa lành của Âu Cơ, trong khi nàng Tiên cũng xiêu lòng trước tấm lòng bao dung và những chiến công lẫy lừng bảo vệ nhân loại của chàng.
  • Dù một người mang bản ngã của tộc Rồng dưới biển sâu, một người thuộc về tộc Tiên trên núi thẳm, họ lại hòa hợp với nhau một cách tĩnh tại và diệu kỳ, tựa như muôn dải sông suối bao bọc lấy những ngọn núi xanh.
  • Họ quyết định kết duyên vợ chồng, thiết lập sự giao hòa thiêng liêng giữa Đất và Nước, mượn mảnh đất Phong Châu trù phú làm nơi xây dựng tổ ấm.
  • Sự kết hợp của hai nguồn linh khí khổng lồ khiến vạn vật trên Trái Đất bước vào thời kỳ sinh sôi nảy nở rực rỡ nhất.
  • Chẳng bao lâu sau, tình yêu vĩ đại ấy đơm hoa kết trái, nàng Âu Cơ hạ sinh một bọc trăm trứng tỏa vầng hào quang rực rỡ.
  • Bọc trăm trứng mang chứa nguồn sức mạnh vô song, được dung dưỡng bởi ngọn Lửa Bảy Màu của mẹ và linh khí Đại dương của cha, hứa hẹn sẽ nở ra một thế hệ anh hùng xuất chúng.
  • Lạc Long Quân và Âu Cơ ngày đêm kề cận, dùng hết tình yêu thương che chở bọc trứng, cùng nhau chờ đợi ngày những đứa con mang trong mình dòng máu Tiên - Rồng chính thức thức tỉnh.

Hỗn Độn trở lại

  • Nhờ sự che chở của các vị thần, con người ngày càng sinh sôi nảy nở. Thế nhưng, khi cuộc sống trở nên quá no đủ và dễ dàng, họ dần quên đi lòng biết ơn đối với đất trời.
  • Con người bắt đầu nảy sinh lòng tham, tranh giành đất đai, tàn phá rừng núi, chặt cây và săn bắt muông thú vô độ để thỏa mãn sự ích kỷ của mình.
  • Chính những suy nghĩ tối tăm, thói kiêu ngạo và hành động tàn phá thiên nhiên của con người đã tạo ra những luồng oán khí nặng nề, vô tình đánh thức và cộng hưởng với Bóng Đêm Sâu Thẳm mang sức mạnh Hỗn Độn từ thuở khai nguyên vốn đang trốn tránh nơi rìa vũ trụ.
  • Được tiếp thêm sức mạnh từ sự tha hóa của nhân loại, Hỗn Độn âm thầm tích tụ sức mạnh và bất ngờ quay trở lại trả thù.
  • Bầu trời bị xé toạc, vô số những tảng thiên thạch rực lửa khổng lồ trút xuống như muốn thiêu rụi mọi mầm sống, trừng phạt những kẻ đã quay lưng lại với Mẹ Thiên Nhiên.
  • Cùng lúc đó, các Bóng Đêm Sâu Thẳm giáng xuống một trận mưa đen kéo dài không dứt ngày đêm. Nước từ trên trời trút xuống, kết hợp với sóng biển cuộn lên, tạo thành cơn Đại Hồng Thủy nhấn chìm mọi đồng bằng, thung lũng để cuốn trôi đi mọi tội lỗi và sự ô nhiễm của con người.
  • Để bảo vệ Trái Đất và bọc trăm trứng, tộc Rồng từ biển sâu và tộc Tiên từ núi thẳm đã xả thân chiến đấu. Rất nhiều Tiên và Rồng đã anh dũng hy sinh, dùng chính thân mình làm lá chắn để đánh chặn thiên thạch.
  • Nhận thấy nước lũ ngập trời sắp nuốt chửng mọi thứ, Mẹ Tiên Âu Cơ liền dùng phép thuật và ngọn lửa sự sống của mình gieo xuống đất một hạt giống. Hạt giống vươn lên mọc thành một giàn bầu hồ lô khổng lồ.
  • Trên giàn kết lại một quả bầu hồ lô vĩ đại, lớp vỏ dần khô lại, trở nên cứng cáp như kim loại nhưng lại nhẹ bàng bồng bềnh.
  • Lạc Long Quân và Âu Cơ mở cuống quả bầu, cẩn thận đặt bọc trăm trứng vào trong, cùng với những hạt giống ngũ cốc của Thần Nông và từng cặp muông thú hiền lành để giữ lại ngọn lửa thiện lương cho thế giới mới.
  • Quả bầu hồ lô bồng bềnh trôi nổi trên biển nước đen ngòm, mặc cho cuồng phong và sóng dữ vùi dập, lớp vỏ cứng cáp của nó vẫn kiên cường bảo vệ sự sống bên trong.
  • Trong khoảnh khắc quyết định, Thần Rồng Lạc Long Quân và Nàng Tiên Âu Cơ đã dốc cạn toàn bộ phép thuật để đẩy lùi thế lực Hỗn Độn.
  • Hai luồng sức mạnh Đất - Nước hòa quyện, tạo thành một cột sáng đánh tan những đám mây đen vần vũ. Sau ánh chớp chói lòa kết thúc trận chiến, cả hai vị thần đều biến mất, bặt vô âm tín, chưa rõ sống chết ra sao.
  • Bầu trời hửng sáng, nước lũ tàn phá vạn vật cũng dần rút đi, mang theo mọi khí tức vẩn đục. Quả bầu hồ lô thiêng liêng từ từ hạ xuống, mắc lại trên một đỉnh núi cao, chuẩn bị mở ra một kỷ nguyên mới rực rỡ và tinh khôi hơn.

Dòng giống Lạc Hồng

  • Sau trận đại chiến hoang tàn không biết bao nhiêu lâu, bọc trứng được che chở an toàn đã nở ra một trăm người con khỏe mạnh, tinh khôi từ trong quả bầu hồ lô trên đỉnh núi.
  • Trái Đất thoát cảnh diệt vong nhưng giờ đây vắng bóng sự hiện diện của Cha Rồng, Mẹ Tiên.
  • Không còn Lạc Long Quân và Âu Cơ dẫn dắt, một trăm người con bơ vơ, ngơ ngác bước ra khỏi quả bầu, cảm thấy cõi lòng trĩu nặng và lạc lõng.
  • Giữa lúc ấy, một trăm người con bơ vơ chợt nghe thấy tiếng vọng ân cần nhưng uy nghiêm nương theo gió núi và sóng biển truyền lại: "Ta là rồng thần cổ đại tổ tiên của các con. Dẫu ta đã chết, thân xác ta đã hoá thành một dải núi sông hình chữ S uốn lượn. Chỉ cần các con sống trên đất này, ta sẽ che chở cho các con. Mọi kẻ thù đến xâm lược, muốn làm hại các con đều sẽ bị đánh bại."
  • Cùng với lời vang vọng, từ biển khơi hiện lên ảo ảnh của những con sóng cuộn trào mang linh hồn "Lạc" dũng mãnh của cha. Còn từ trên bầu trời hửng nắng, một cánh chim "Hồng" khổng lồ rực rỡ mang hơi ấm ngọn Lửa Bảy Màu của mẹ bay lướt qua để soi đường chỉ lối.
  • Thấu hiểu tình yêu thương vô bờ bến ấy, các con gạt đi nước mắt. Để tự hào và ghi nhớ công lao của cha mẹ, họ nhận mình là Dòng giống Lạc Hồng – những người con mang trong mình sức mạnh vô tận của biển cả (Lạc) và đôi cánh vĩ đại, bao dung của núi rừng (Hồng).
  • Các con nghe lời cha mẹ, chia nhau ra khắp nơi sinh sống, dựng nên các bộ lạc, khai phá đất đai, trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng nhà cửa, làng mạc.
  • Năm mươi người mang dòng máu Rồng lội suối băng rừng tìm về vùng đồng bằng ven biển. Năm mươi người mang cốt cách Tiên đi theo cánh chim Hồng ngược lên vùng non cao mây phủ.
  • Các con dần dần hình thành nên các bộ tộc, mỗi bộ tộc có một vị thủ lĩnh, các vị thủ lĩnh này được gọi là Vua Hùng. Kỷ nguyên rực rỡ của Dòng giống Lạc Hồng chính thức bắt đầu, mở ra thời kỳ con người tự tay kiến tạo thế giới.
  • Đến nay vẫn còn tìm thấy rất nhiều Trống Đồng được đúc có hình chim Lạc.

Thánh Gióng: Sự trỗi dậy bảo vệ đất nước, sức mạnh của đồ sắt.

  • Dưới sự dẫn dắt của các Vua Hùng, Dòng giống Lạc Hồng ngày càng phát triển, xóm làng trù phú.
  • Đến đời Vua Hùng thứ sáu, từ phương Bắc xa xôi. Có một đạo quân tinh nhuệ nhưng vô cùng hung ác. Chúng toàn kỵ binh, cưỡi ngựa sắt, hông đeo cung tên, tay cầm mã tấu. Mũi tên của chúng được làm từ hàn băng ngàn năm. Ai trúng tên thì bị đóng băng ngay lập tức. Mã tấu của chúng được nung qua lửa Hỗn Độn. Mỗi đao chém ra mang theo luồng khí đen tà ác.
  • Chúng đi đến đâu là đốt phá nhà cửa, cướp bóc thóc lúa, đe dọa cuộc sống bình yên của người dân. Chúng không định cư tại một chỗ mà cứ cướp bóc xong nơi này lại dời đi nơi khác tiếp tục tàn phá. Bất kỳ nơi nào chúng đi qua, xương chất đầy đồng, cây không mọc nổi, làng mạc cháy đen thành một đống tro tàn.
  • Lúc bấy giờ, ở làng Gióng có hai vợ chồng già chăm chỉ làm lụng nhưng mãi không có con. Một hôm, bà lão ra đồng, tình cờ thấy một vết chân vĩ đại, to lớn khác thường in trên mặt đất – vết tích còn sót lại của một vị Linh Thần Khổng Lồ từ thuở Khai Thiên Lập Địa.
  • Bà lão tò mò đặt chân vào ướm thử, không ngờ về nhà liền mang thai và sinh ra một cậu bé khôi ngô, đặt tên là Gióng.
  • Lạ thay, Gióng lên ba tuổi mà vẫn nằm im một chỗ, không biết nói, không biết cười, cũng chẳng biết đi đứng.
  • Khi thế giặc Ân ngày càng mạnh, Vua Hùng lo lắng sai sứ giả đi khắp nơi đánh chiêng kêu gọi người tài ra cứu nước.
  • Nghe tiếng chiêng, cậu bé Gióng bỗng nhiên ngồi dậy, cất tiếng nói đầu tiên dõng dạc: "Mẹ hãy ra mời sứ giả vào đây cho con!"
  • Gióng nhờ sứ giả tâu với Vua Hùng xin rèn cho một con ngựa sắt, một áo giáp sắt và một cây roi sắt thật to lớn để đi đánh giặc.
  • Nhận được tin báo, Vua Hùng lập tức tập hợp tất cả những thợ rèn tài giỏi nhất cả nước. Họ nhớ lại kỹ thuật dùng lửa nung chảy quặng sắt mà Thần Rồng Lạc Long Quân từng truyền dạy thuở đánh Ngư tinh.
  • Ngày đêm, hàng ngàn bễ lò rèn đỏ rực, tiếng búa đập chan chát vang lên không ngớt. Bằng trí tuệ và sức lao động tập thể, họ đã đúc thành công một bộ giáp sắt kiên cố, một cây roi sắt nặng trịch và một con ngựa sắt vĩ đại.
  • Trong khi đó, ở làng Gióng, dân làng nô nức góp gạo, góp cà để thổi cơm nuôi cậu bé. Gióng ăn bao nhiêu cũng không no, áo vừa may xong đã đứt chỉ. Cậu bé vươn vai một cái liền biến thành một tráng sĩ khổng lồ, oai phong lẫm liệt.
  • Khi ngựa sắt, giáp sắt và roi sắt được mang đến, tráng sĩ mặc áo giáp, vỗ tay vào mông ngựa. Ngựa sắt hí vang trời, từ trong miệng phun ra ngọn lửa đỏ rực mang theo sức nóng hầm hập của những lò rèn vĩ đại.
  • Gióng vung roi sắt, cưỡi ngựa lao thẳng vào vòng vây của giặc Ân. Sức mạnh của kim loại sắc bén vô địch quật ngã hàng vạn quân thù, áo giáp sắt che chắn mọi mũi tên hòn đạn.
  • Tuy vậy đại tướng của quân địch cũng không phải dạng vừa. Hắn cưỡi một con ngựa đen tuyền, thân hình to lớn như một con trâu mộng. Trên tay hắn cầm một cây mã tấu khổng lồ, mỗi nhát chém ra mang theo luồng khí đen đặc tà ác. Những mũi tên hắn bắn ra đều chuẩn xác vô cùng. Thậm chí đã có một vài mũi lách qua được khe giáp mà xuyên vào da thịt của tráng sĩ. Vùng da đó đóng băng ngay lập tức. Tráng sĩ đau đớn nhưng không hề nao núng. Cậu tiếp tục vung roi sắt quật ngã hàng vạn quân thù.
  • Tên chủ tướng địch xông lên cầm mã tấu mà quật thẳng vào tráng sĩ. Tráng sĩ dơ roi sắt lên đõ, roi sắt bị gãy.
  • Khi đang không biết làm thế nào thì từ trên trời một hình ảnh mờ ảo hiện lên như cột chống trời ngày trước. Phía dưới chân cột là một bụi tre. Gióng lao đến nhổ những cụm tre đằng ngà ven đường – biểu tượng cho sức sống bền bỉ của thiên nhiên xứ sở – làm vũ khí tiếp tục quật giặc tơi bời. Đánh cho tên chủ tướng không còn mũ giáp, vứt bỏ mã tấu mà chạy trốn.
  • Giặc Ân tan vỡ, tháo chạy tán loạn. Đất nước trở lại thái bình.
  • Gióng một mình cưỡi ngựa bay lên đỉnh núi Sóc, cởi bỏ chiếc áo giáp sắt gửi lại cho trần gian, rồi cùng ngựa sắt từ từ bay thẳng lên trời cao.
  • Người đời sau luôn nhớ ơn người anh hùng làng Gióng, đồng thời càng thêm tự hào và trân trọng nghề rèn đúc thủ công – thứ đã tạo ra sức mạnh kim khí bảo vệ bờ cõi nước nhà.

Sự tích bánh chưng bánh dày: Tôn vinh nghề nông, ngọc thực và lòng biết ơn.

  • Sau khi giặc Ân bị Thánh Gióng đánh tan, đất nước của Dòng giống Lạc Hồng trở lại chuỗi ngày thái bình, thịnh vượng dưới sự trị vì của Vua Hùng thứ sáu.
  • Lúc này, Vua Hùng đã già yếu, ngài muốn tìm một người con hiền tài, có đức độ để truyền ngôi báu, tiếp tục dẫn dắt muôn dân xây dựng xóm làng.
  • Vua gọi các con trai (các Lang) đến và phán rằng: "Nhân dịp lễ tế Trời Đất và Tổ tiên sắp tới, ai dâng lên được món lễ vật ý nghĩa nhất, thấu hiểu được đạo lý của trời đất nhất, ta sẽ nhường ngôi cho."
  • Các vị Lang nghe vậy, đua nhau sai người lên rừng thiêng nước độc, xuống tận đáy biển sâu hiểm nguy để săn tìm kỳ hoa dị thảo, trân châu ngọc bảo nhằm làm vui lòng vua cha.
  • Riêng Lang Liêu - người con thứ mười tám - lại là một chàng trai hiền lành, giản dị. Chàng thấu hiểu sự vất vả của người nông dân, ngày ngày lội bùn, cày cấy, trân quý những hạt giống mà Thần Nông đã ban tặng từ thuở trước.
  • Giữa lúc Lang Liêu đang ngày đêm trăn trở không biết dâng vật gì cho xứng đáng, thì một đêm nọ, chàng chìm vào giấc ngủ bên bếp lửa.
  • Trong giấc mộng, một vầng sáng dịu dàng mang hơi ấm của ngọn Lửa Bảy Màu hiện ra. Bóng dáng Mẹ Tiên Âu Cơ ân cần mỉm cười và bảo: "Trong trời đất, không có gì quý bằng hạt gạo. Gạo là hạt ngọc nuôi sống con người, hấp thụ tinh hoa của ánh nắng mặt trời và dòng nước mát. Con hãy dùng chính hạt gạo ấy làm bánh để dâng lên Tổ tiên."
  • Tỉnh mộng, Lang Liêu vô cùng mừng rỡ. Chàng tự tay ra đồng lựa chọn những hạt gạo nếp trắng ngần, tròn mẩy và thơm dẻo nhất.
  • Nhớ lại hình bóng vũ trụ thuở sơ khai, Lang Liêu lấy lá dong xanh ngắt bọc lấy gạo nếp, đậu xanh và thịt, gói thành những chiếc bánh hình vuông vức. Bánh vuông tượng trưng cho mặt Đất - cũng chính là thân thể bao la, hiền hòa của Cha Rồng Lạc Long Quân đang ôm ấp con người. Chàng gọi đó là Bánh Chưng.
  • Chiếc lạt giang buộc chặt bên ngoài tựa như sự che chở, đùm bọc yêu thương của bọc trăm trứng năm nào.
  • Kế đó, chàng lại đem đồ xôi nếp cho thật dẻo, cho vào cối giã mịn rồi nặn thành những chiếc bánh hình tròn, trắng muốt, khum khum. Bánh tròn tượng trưng cho vòm Trời rực rỡ, gợi nhớ đến vị Linh Thần Khổng Lồ đã dùng Gậy Chống Trời thuở Khai Thiên Lập Địa. Chàng gọi đó là Bánh Dày.
  • Ngày hội tế lễ đến, mâm cỗ của các vị hoàng tử khác ngập tràn thịt rừng, cá biển đắt tiền. Riêng mâm của Lang Liêu chỉ có hai loại bánh giản dị, tỏa hương thơm mùi lúa nếp đồng quê.
  • Vua Hùng ban đầu ngạc nhiên, nhưng khi nếm thử và nghe Lang Liêu giảng giải ý nghĩa sâu xa về Trời - Đất, về công lao của Linh Thần Khổng Lồ, Cha Rồng, Mẹ Tiên được gói trọn trong từng hạt ngọc của tự nhiên, ngài vô cùng xúc động.
  • Nhận thấy Lang Liêu là người thấu hiểu đạo lý, trân trọng sức lao động và biết cội nguồn, Vua Hùng quyết định truyền ngôi báu cho chàng.
  • Từ đó về sau, truyền thống gói bánh chưng bánh dày ra đời, trở thành biểu tượng thiêng liêng để người dân Việt tạ ơn Trời Đất, Tổ tiên đã ban cho họ cuộc sống ấm no, bình yên.

Sự tích Mai An Tiêm (Quả dưa hấu): Tinh thần tự lập, vươn ra biển đảo.

  • Dưới sự trị vì của các Vua Hùng, Dòng giống Lạc Hồng ngày càng phát triển mạnh mẽ, dân chúng sống ấm no nhờ nghề nông và những chiếc bánh chưng, bánh dày thiêng liêng.
  • Vua Hùng có một người con nuôi tên là Mai An Tiêm. Chàng vô cùng thông minh, tháo vát và luôn tin tưởng vào sức lao động của chính mình.
  • Trong khi nhiều quan lại thích nhận vàng bạc châu báu vua ban, An Tiêm lại thường nói: "Của do đôi bàn tay mình làm ra mới là của bền thực sự, của biếu là của lo, của cho là của nợ."
  • Câu nói này đến tai Vua Hùng khiến ngài tức giận, cho rằng An Tiêm kiêu ngạo, vô ơn. Vua liền ra lệnh đày gia đình An Tiêm ra một hòn đảo hoang vu, mù mịt giữa Biển Đông để xem chàng tự lập ra sao.
  • Đặt chân lên hòn đảo đầy cát trắng và nắng gắt, vợ con An Tiêm vô cùng lo sợ. Nhưng chàng không hề nao núng, bởi chàng biết trong huyết quản mình chảy dòng máu dũng mãnh của Thần Rồng Lạc Long Quân – vị thần cai quản biển cả bao la.
  • An Tiêm động viên vợ con, dùng đôi bàn tay tháo vát đốn cây đan tranh dựng lều, tìm nguồn nước ngọt, lượm hàu bắt cá ven bờ để duy trì sự sống.
  • Một ngày nọ, từ trên bầu trời cao xanh, một bầy chim lớn mang dáng dấp của loài chim Hồng thiêng liêng bay ngang qua đảo hoang. Chúng nhả lại trên bãi cát những hạt giống màu đen tuyền.
  • Tin rằng đây là điềm lành do Mẹ Tiên Âu Cơ trên non cao gửi gắm, An Tiêm cẩn thận đem hạt giống gieo xuống vạt cát ẩm.
  • Ngày qua ngày, hạt nảy mầm, bò lan thành những dây leo xanh tốt. Chẳng bao lâu, cây kết thành những quả to tròn, vỏ xanh thẫm.
  • Bổ quả ra, bên trong ruột đỏ hồng rực rỡ như ngọn Lửa Bảy Màu của mẹ Tiên, hạt đen lay láy, cắn vào thấy nước tứa ra ngọt lịm, mát lành như dòng nước bao dung của cha Rồng. An Tiêm gọi đó là quả Dưa Hấu.
  • Dưa hấu giúp gia đình An Tiêm vượt qua những ngày nắng hạn khát khô. Khi dưa thu hoạch ngày càng nhiều, chàng liền khắc tên mình lên vỏ dưa rồi thả xuống biển.
  • Từng quả dưa bồng bềnh nương theo những con sóng hiền hòa của Đại Dương trôi dạt vào đất liền. Các tàu buôn vớt được, nếm thử thấy vị ngon ngọt kỳ lạ bèn mang đi dâng vua.
  • Khi biết đó là loại quả do chính tay Mai An Tiêm trồng trên đảo hoang, Vua Hùng vô cùng ngạc nhiên và xúc động. Ngài thấu hiểu rằng An Tiêm đã nói đúng: sức lao động và ý chí tự lập mới là tài sản quý giá nhất.
  • Vua lập tức sai thuyền lớn ra đảo đón gia đình An Tiêm trở về. Chàng không quên mang theo những hạt giống dưa hấu quý giá về phân phát, dạy dân chúng cách gieo trồng trên những bãi cát ven biển.
  • Kể từ đó, quả dưa hấu ruột đỏ vỏ xanh trở thành thức quả không thể thiếu, minh chứng cho ý chí sinh tồn kiên cường và tinh thần can đảm vươn ra chinh phục biển đảo của Dòng giống Lạc Hồng.

Truyền thuyết Bà Thu Bồn: Hành trình về phương Nam, nữ thần sông nước dạy dân nghề ươm tơ, dệt vải.

  • Tiếp nối ý chí tự lập từ Mai An Tiêm, một cánh người của Dòng giống Lạc Hồng quyết định băng qua những đèo cao suối sâu để tiến về phương Nam mở mang bờ cõi.
  • Họ dừng chân tại một thung lũng vô cùng trù phú, nơi có một dòng sông lớn cuồn cuộn chảy ra biển khơi. Dù đất đai màu mỡ, nhưng thiên nhiên hoang dã khiến cuộc sống ban đầu rất gian nan. Con người vẫn phải lấy lá cây, vỏ thú thô ráp để che thân, chịu cảnh rét mướt khi gió mùa thổi tới.
  • Lúc bấy giờ, từ sự giao hòa linh khí của đất trời phương Nam, xuất hiện một người phụ nữ xinh đẹp, mộc mạc và mang tấm lòng bao dung tên là Thu Bồn. Nàng mang trong mình sự ấm áp của ngọn Lửa Bảy Màu từ Mẹ Tiên Âu Cơ và sự uyển chuyển, hiền hòa của Nước từ Cha Rồng Lạc Long Quân.
  • Thấu hiểu cảnh cơ hàn của dân chúng, Bà Thu Bồn đi dọc hai bên bờ sông, đem những hạt giống cây dâu tằm gieo xuống vùng đất bãi bồi phủ đầy phù sa tơi xốp.
  • Khi những nương dâu vươn lên xanh tốt, Bà tìm gọi những loài sâu bướm hiền lành trong rừng, thuần hóa chúng thành loài tằm chăm chỉ nhả tơ.
  • Bà tận tay chỉ dạy người dân cách hái lá dâu nuôi tằm, cách đun nước sôi để kéo ra những sợi tơ vàng óng ả, dai dẳng từ những chiếc kén nhỏ bé.
  • Kế tiếp, Bà mượn những khúc gỗ chắc chắn, đẽo gọt và chắp nối lại tạo thành những chiếc khung cửi đầu tiên. Từ đó, tiếng thoi đưa lách cách bắt đầu vang lên rộn rã khắp xóm làng.
  • Nhờ bàn tay khéo léo và sự chỉ dạy của Bà Thu Bồn, Dòng giống Lạc Hồng không còn phải mặc vỏ cây nữa. Họ đã tự dệt nên những tấm lụa, xấp vải mềm mại, bền chắc để may áo quần che thân, giữ ấm cho người già và trẻ nhỏ.
  • Bà còn dạy dân làng cách nắn dòng chảy nhỏ ven sông để dẫn nước tưới tiêu cho đồng ruộng, và tìm các loại thảo mộc ven bờ để chữa bệnh ốm đau.
  • Một năm nọ, tàn dư khí tức Hỗn Độn thuở trước bất ngờ trỗi dậy, kích động dòng sông nổi cơn thịnh nộ. Nước sông dâng cao cuồn cuộn, hung hãn định chôn vùi toàn bộ những xóm làng dệt vải và những nương dâu non trẻ.
  • Để bảo vệ sinh mạng muôn dân và thành quả lao động của họ, Bà Thu Bồn dốc hết linh khí, dùng chính tấm lụa ngũ sắc khổng lồ rực rỡ nhất do mình dệt nên, lao mình xuống dòng nước xiết.
  • Tấm lụa ngũ sắc trải dài, ánh sáng bao trùm lấy dòng sông, hóa giải cơn giận dữ của dòng nước, biến cơn lũ dữ thành dòng phù sa êm ái bồi đắp cho đôi bờ.
  • Thế nhưng, sau khi nước rút đi, Bà Thu Bồn không bao giờ trở lại nữa. Linh hồn và thân xác Bà đã hòa làm một với dòng nước, mãi mãi trôi hiền hòa để ôm ấp, tưới mát cho vùng đất phương Nam trù phú.
  • Tưởng nhớ công ơn to lớn và sự hy sinh cao cả của Bà, người dân đã gọi tên dòng sông ấy là sông Thu Bồn. Họ lập đền thờ Bà trang trọng ngay bên lở bên bồi của dòng sông.
  • Kể từ đó, các thế hệ Dòng giống Lạc Hồng dọc hai bờ sông Thu Bồn tiếp tục gìn giữ và phát triển nghề trồng dâu, ươm tơ, dệt vải. Những xóm làng ấy ngày một sung túc, tấp nập thuyền bè giao thương, tạo nên nền móng vững chắc cho vùng đất Hội An rực rỡ sau này.

Sự tích Làng Gốm (Gốm Thanh Hà): Con người vớt đất sét ven sông, làm chủ ngọn lửa để nung thành các vật dụng (chén, vại, gạch nung).

  • Kể từ ngày dòng sông Thu Bồn hiền hòa chảy qua thung lũng, người dân phương Nam đã có lụa ấm để mặc, có phù sa để gieo trồng ngũ cốc.
  • Tuy nhiên, khi mùa màng bội thu, họ lại đối mặt với một khó khăn mới: không có vật dụng bền chắc để tích trữ hạt giống, thóc lúa và đặc biệt là không có đồ để múc nước, đun nấu. Họ chủ yếu dùng vỏ bầu sấy khô hoặc những khúc gỗ rỗng, nhưng chúng rất dễ nứt vỡ và mục nát.
  • Một ngày nọ, khi thủy triều ven sông rút xuống, những người thợ cày phát hiện ra dưới lớp bùn lầy có một loại đất sét màu nâu vàng, vô cùng mịn màng và dẻo quánh.
  • Thử lấy tay nhào nặn, họ nhận thấy loại đất này có thể dễ dàng tạo thành hình dáng của những chiếc bát, chiếc vại hay những viên gạch vuông vức.
  • Mọi người mừng rỡ nặn ra vô số đồ dùng và đem phơi dưới ánh nắng mặt trời. Thế nhưng, sự vui mừng chẳng kéo dài được bao lâu. Khi trời đổ mưa hoặc khi đổ nước vào múc, những chiếc vại đất nứt nẻ và nhanh chóng tan chảy, rữa ra thành bùn lầy như cũ.
  • Nhớ lại trí tuệ rèn sắt thuở Thánh Gióng, một vị trưởng bản giàu kinh nghiệm nhận ra rằng: Đất và Nước tạo nên hình dáng, nhưng chỉ có sức mạnh của Lửa mới có thể ban cho vật chất sự vĩnh cửu.
  • Dân làng liền gom củi khô, dựng nên những lò nung lớn bằng đất. Họ cẩn thận xếp những chiếc vại, chiếc bát đất sét vào trong rồi nổi lửa đốt ròng rã suốt nhiều ngày đêm.
  • Ngọn lửa hừng hực cháy, thổi bùng hơi nóng xua đi hơi nước ẩm ướt trong đất. Trong lò nung, đất sét đang trải qua một cuộc lột xác ngoạn mục.
  • Khi lửa tàn và lò nguội, dân làng hồi hộp mở ra. Phép màu đã xuất hiện! Những khối đất sét nâu xám, mềm nhão ngày nào giờ đây đã hóa thành những khối gốm đỏ au, cứng cáp, gõ vào phát ra tiếng kêu thanh thúy như tiếng chuông đồng.
  • Nước đổ vào không còn bị rỉ ra, đồ ăn đem nấu trên bếp lửa cũng không làm vỡ nồi. Con người đã hoàn toàn làm chủ được vật chất.
  • Để làm ra những đồ vật tròn trịa và đều đặn hơn, họ bắt đầu sáng chế ra chiếc bàn xoay. Những đôi bàn tay lấm lem bùn đất nhịp nhàng vuốt ve khối đất đang xoay tròn, tựa như đang mô phỏng lại vòng quay của vũ trụ thuở Khai Thiên Lập Địa.
  • Nhờ nghề làm gốm, người dân không chỉ có đồ dùng sinh hoạt mà còn nung được những viên gạch ngói đỏ tươi để xây dựng nhà cửa vững chãi, chống chọi được với mưa bão.
  • Xóm làng thợ gốm ven sông ngày một nhộn nhịp, thuyền bè khắp nơi tấp nập đến trao đổi hàng hóa. Họ gọi vùng đất bình yên, rực rỡ sắc đỏ của gốm và gạch nung ấy là Thanh Hà (có nghĩa là dòng sông xanh trong, thái bình).
  • Kể từ đó, ngọn lửa trong các lò gốm Thanh Hà chưa bao giờ tắt, trở thành minh chứng vĩnh cửu cho đôi bàn tay lao động tài hoa và sức sáng tạo không ngừng của con người.

Sự tích Làng Mộc (Mộc Kim Bồng): Kế thừa sức mạnh từ thân cây Mộc Tinh thuở trước, con người học cách đục đẽo, chạm trổ, đóng thuyền vươn khơi và dựng nên những ngôi nhà vững chãi.

  • Cùng với sự hưng thịnh của cư dân ven dòng Thu Bồn, Dòng giống Lạc Hồng giờ đây đã có lụa mặc, có gốm nung, nhưng họ vẫn cần những ngôi nhà gỗ thật to lớn và những chiếc thuyền vững chãi để vươn khơi bám biển như Mai An Tiêm.
  • Nhớ lại thuở trước, Cha Rồng Lạc Long Quân từng chặt đổ quái vật Mộc Tinh khổng lồ để dạy dân làm nhà sàn. Trải qua trận Đại Hồng Thủy, những mầm sống và hạt giống mang sức sống mãnh liệt của giống gỗ thiêng ấy đã trôi dạt về phương Nam, tấp vào một cồn đảo nhỏ giữa dòng sông Thu Bồn.
  • Tại cồn đảo ấy, mầm cây vươn lên thành một khu rừng nguyên sinh với những thân gỗ lớn vươn thẳng lên trời cao. Thớ gỗ vàng óng, tỏa mùi hương trầm ấm áp, dẻo dai và cứng cáp đến mức không mối mọt nào đục khoét được.
  • Kế thừa kỹ thuật rèn đúc từ thời Thánh Gióng, những người thợ khéo tay trong vùng đã dùng sắt rèn nên cưa, bào, rìu và những chiếc đục sắc bén.
  • Họ mang dụng cụ tiến vào rừng, thành kính xin phép thần rừng rồi mới đốn hạ những cây gỗ trưởng thành. Tiếng cưa xẻ rèn rẹt, tiếng búa đập lách cách vang lên nhịp nhàng, hòa quyện với tiếng sóng vỗ ven bờ tạo thành một bản nhạc lao động rộn rã.
  • Bằng óc quan sát tự nhiên và sự tính toán tài tình, họ sáng tạo ra kỹ thuật "ghép mộng" – đục những mộng mẹ bập khít vào mộng con, kết nối các thanh gỗ lại với nhau cực kỳ vững chắc mà không cần đến một chiếc đinh sắt nào.
  • Dưới đôi bàn tay thô ráp nhưng tài hoa, những khúc gỗ vô tri biến thành bộ khung cột, vì kèo của những nếp nhà rường bề thế.
  • Không để gỗ trơn tuột, họ dùng những chiếc đục nhỏ để chạm trổ lên thân gỗ. Hình ảnh vẩy Rồng uy nghi của cha, hình dáng uốn lượn của cánh chim Hồng mềm mại của mẹ dần hiện ra trên từng thớ gỗ, nhắc nhở con cháu đời sau luôn nhớ về cội nguồn.
  • Họ còn đun nóng ván gỗ, uốn cong và dùng nhựa cây xảm lại để đóng thành những con thuyền lớn có mũi cong vút. Hai bên mũi thuyền được chạm khắc đôi mắt to tròn, sáng rực để thuyền có thể nhìn thấu phong ba bão táp, rẽ sóng vươn ra đại dương bao la.
  • Xóm thợ mộc tài hoa và cần mẫn ấy nằm ôm lấy dòng nước lấp lánh, quanh năm thoang thoảng mùi gỗ mùn cưa, được người đời ngợi ca và gọi tên là Làng mộc Kim Bồng.
  • Từ đó, những ngôi nhà ba gian trạm trổ tinh xảo và những con thuyền Kim Bồng kiêu hãnh giong buồm đi khắp nơi, mang theo tinh hoa lao động và ý chí kiến tạo thế giới không ngừng nghỉ của con người.

Sơn Tinh - Thuỷ Tinh: Đỉnh cao của sức mạnh đoàn kết, đắp đê trị thủy bảo vệ thành quả lao động.

  • Dưới sự che chở của các Vua Hùng, Dòng giống Lạc Hồng ngày càng phát triển rực rỡ với muôn vàn nghề nghiệp thủ công. Đến đời Vua Hùng thứ mười tám, nhà vua sinh được một người con gái nhan sắc tuyệt trần, tính tình hiền dịu tên là Mị Nương.
  • Nhan sắc và đức hạnh của Mị Nương vang xa khắp chốn. Một ngày nọ, có hai vị thần mang sức mạnh phi thường cùng lúc đến cầu hôn nàng.
  • Một người là Sơn Tinh - Chúa tể vùng non cao (núi Tản Viên). Chàng thực chất là hiện thân của vị Thần Núi cổ đại từ thuở Rồng mới xuất hiện, người luôn mang trong mình bản tính hiền lành, nhưng vô cùng uy nghiêm. Bình thường chàng hiền hòa dung dưỡng cỏ cây, nhưng khi cần bảo vệ sinh linh, sự uy nghiêm của chàng vững chãi như những vách đá bất diệt.
  • Người kia là Thủy Tinh - Chúa tể vùng nước thẳm. Chàng kế thừa sức mạnh cuộn trào của biển cả bao la, có thể hô mưa gọi gió, điều khiển các dòng chảy vĩ đại.
  • Vua Hùng băn khoăn không biết chọn ai, bèn ra điều kiện: "Ngày mai, ai mang sính lễ đến trước gồm: một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, thì ta sẽ gả con gái cho."
  • Sơn Tinh với bản tính hiền lành vốn được muôn loài yêu mến. Các loài kỳ thú trên non cao tự nguyện tụ họp lại, cùng dân làng sửa soạn bánh chưng, cơm nếp giúp chàng chuẩn bị đầy đủ sính lễ ngay khi trời vừa rạng sáng, rước Mị Nương về núi Tản Viên.
  • Thủy Tinh ở mãi dưới vực sâu nên gom sính lễ chậm hơn. Khi đem đến nơi thì Mị Nương đã theo Sơn Tinh về núi.
  • Cơn cuồng nộ bùng lên, Thủy Tinh cảm thấy bị sỉ nhục. Chàng vung tay đánh thức những thế lực cổ đại, gọi Thần Mưa và Thần Sét tạo ra những trận cuồng phong, sấm chớp giật đùng đùng.
  • Thủy Tinh dâng nước sông lên cuồn cuộn, hóa thành những cột sóng khổng lồ đánh thẳng vào sườn núi Tản Viên. Dòng nước hung hãn ngập tràn đồng ruộng, nhấn chìm những mái nhà gỗ vừa mới dựng, đe dọa phá hủy mọi thành quả lao động của con người.
  • Lúc này, sự uy nghiêm của Sơn Tinh mới thực sự bộc lộ. Chàng đứng sừng sững trên đỉnh núi, dùng phép thuật bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi để chặn đứng dòng nước lũ.
  • Thế nhưng, Sơn Tinh không chiến đấu một mình. Chàng gọi những người con của Dòng giống Lạc Hồng sát cánh bên nhau.
  • Con người không còn thụ động hay sợ hãi như thuở Hỗn Độn trở lại. Họ dùng những công cụ bằng sắt nhọn hoắt để đào đất, dùng những chiếc quang gánh bằng tre gỗ dẻo dai để nối đuôi nhau gánh đất đá. Hàng ngàn, hàng vạn người đoàn kết lại, đắp thành những con đê vĩ đại uốn lượn như mình rồng để bảo vệ mùa màng.
  • Thủy Tinh dâng nước cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại hóa phép làm núi cao lên bấy nhiêu, và những con đê của con người cũng không ngừng được bồi đắp.
  • Sau nhiều tháng trời ròng rã giao tranh, nước biển dẫu mạnh mẽ đến đâu cũng không thể xuyên thủng bức tường thành được dựng lên bởi đất đá và ý chí kiên cường của Dòng giống Lạc Hồng. Thủy Tinh kiệt sức, đành rút quân mây mù và nước lũ về lại biển sâu.
  • Dù thất bại, sự oán hận của Thủy Tinh vẫn không nguôi. Từ đó về sau, năm nào Thủy Tinh cũng dâng nước dâng bão lên đánh Sơn Tinh, nhưng lần nào, sức mạnh của Đất và ý chí đắp đê trị thủy của con người cũng vững vàng giành chiến thắng.

Sự tích Trầu Cau: Tôn vinh tình cảm gia đình, đồng thời khám phá ra "đá vôi" - vật liệu kết dính quan trọng trong xây dựng.

  • Sau chiến thắng vĩ đại trước Thủy Tinh, con người lại đứng trước một thử thách mới. Những con đê đắp bằng đất tuy cao nhưng qua nhiều mùa mưa nắng vẫn bị dòng nước bào mòn. Những viên gạch nung dẫu cứng cáp nhưng khi xếp chồng lên nhau lại thiếu một chất kết dính bền chặt để tạo thành những bức tường thành vĩnh cửu.
  • Bấy giờ, trong Dòng giống Lạc Hồng có hai anh em mồ côi cha mẹ tên là Tân và Lang. Hai anh em giống nhau như đúc, lúc nào cũng quấn quýt, nhường nhịn và yêu thương nhau hết mực.
  • Lớn lên, Tân và Lang cùng đến tầm sư học đạo. Thấy hai anh em hiền lành, chăm chỉ, người thầy đã gả cô con gái xinh đẹp, nết na của mình cho người anh là Tân.
  • Từ ngày có vợ, Tân bận rộn chăm lo cho gia đình nhỏ, vô tình không còn quan tâm đến em trai nhiều như trước. Lang cảm thấy tủi thân, ngỡ rằng tình anh em đang dần phai nhạt.
  • Một buổi chiều chạng vạng, Lang đi làm đồng về trước. Người vợ từ trong bếp bước ra, nhìn nhầm trong bóng tối tưởng là chồng mình bèn chạy ra ôm chầm lấy. Đúng lúc đó Tân bước vào. Dù hiểu ra là sự nhầm lẫn, nhưng sự ngượng ngùng đã tạo ra một khoảng cách vô hình giữa ba người.
  • Buồn bã và không muốn làm cản trở hạnh phúc của anh chị, đêm hôm ấy, Lang lặng lẽ rời nhà ra đi.
  • Lang đi mãi, đi mãi cho đến khi kiệt sức bên bờ một con sông lớn – nơi dòng nước tàn dư của Thủy Tinh vẫn cuồn cuộn chảy. Chàng gục xuống, hóa thân thành một khối đá trắng muốt, cứng cỏi và lạnh lẽo. Đó chính là Đá Vôi, tượng trưng cho sự thủy chung, nặng lòng nhưng đầy cô độc của người em.
  • Tân tỉnh dậy không thấy em, ân hận tột cùng bèn cất công đi tìm. Đến bờ sông, thấy khối đá trắng, Tân kiệt sức gục ngã bên cạnh, hóa thành một cái cây thân thẳng tắp, vươn cao lên bầu trời như sự ngay thẳng của người anh. Đó là Cây Cau.
  • Người vợ ở nhà đợi mãi không thấy chồng và em về, cũng lên đường tìm kiếm. Nàng đến bên bờ sông, tựa lưng vào thân cau khóc cạn nước mắt rồi chết, hóa thành một loài dây leo mềm mại, quấn chặt lấy thân cây cau. Đó là Dây Trầu.
  • Sau này, Vua Hùng đi tuần thú qua vùng đó, nghe người dân kể lại câu chuyện cảm động bèn sai người hái lá trầu, quả cau và lấy một mẩu đá vôi đem nung nóng thành bột trắng (vôi tôi).
  • Khi Vua nhai thử cả ba thứ cùng nhau, một phép màu xuất hiện: bã trầu nhai ra có màu đỏ tươi như máu, vị cay nóng và thơm nồng. Vua phán rằng: "Đây chính là minh chứng cho tình anh em, vợ chồng gắn bó máu thịt, dẫu chết cũng không lìa xa." Từ đó, tục ăn trầu cau ra đời, trở thành lễ vật không thể thiếu trong các dịp cưới hỏi để tôn vinh tình cảm gia đình.
  • Không chỉ có vậy, từ việc nung đá vôi, những người thợ xây dựng thời bấy giờ đã phát hiện ra một điều kỳ diệu. Khi đem bột vôi trắng (vôi tôi) trộn với cát ven sông và nước, họ tạo ra một hỗn hợp dẻo quánh.
  • Điều kỳ lạ là khi hỗn hợp này khô lại, nó trở nên cứng như đá, gắn chặt những viên gạch nung Thanh Hà lại với nhau không thể nào tách rời. Con người gọi đó là Vữa.
  • Nhờ có vữa vôi, con người bắt đầu xây dựng được những ngôi nhà gạch kiên cố, những bức tường thành vững chãi và gia cố những con đê Sơn Tinh vĩnh viễn không sợ dòng nước Thủy Tinh làm cho xói mòn. Tình nghĩa gia đình và trí tuệ lao động đã cùng nhau kiến tạo nên sự trường tồn của văn minh Dòng giống Lạc Hồng.

Chử Đồng Tử - Tiên Dung: Giao thương, chợ búa, kết thúc thời kỳ bộ lạc để chuyển sang xã hội dân sự phát triển.

  • Nhờ những con đê vững chãi và vữa vôi kiên cố, xóm làng của Dòng giống Lạc Hồng ngày càng trù phú. Người dân không chỉ cày cấy mà còn không ngừng làm ra những tấm lụa mềm mại, những mẻ gốm Thanh Hà đỏ âu và những chiếc thuyền Kim Bồng lướt sóng.
  • Vua Hùng thứ mười tám có một cô con gái vô cùng xinh đẹp tên là Tiên Dung. Khác với những nàng công chúa chỉ thích ở chốn lầu son gác tía, Tiên Dung mang khao khát tự do, thích dong buồm trên những chiếc thuyền gỗ lớn để đi thăm thú núi sông, ngắm nhìn cuộc sống của muôn dân.
  • Cùng lúc bấy giờ, ở làng Chử Xá ven sông, có hai cha con Chử Đồng Tử nghèo khó, nhà cháy chỉ còn lại một chiếc khố vải mỏng manh phải mặc chung.
  • Khi người cha hấp hối, ông dặn con hãy giữ lại chiếc khố cho mình, nhưng vì lòng hiếu thảo, Chử Đồng Tử không nỡ để cha ra đi trần truồng nên đã dùng chiếc khố duy nhất ấy để an táng cha.
  • Không còn áo quần che thân, Chử Đồng Tử đành phải ngâm mình dưới nước bắt cá, ban ngày lẩn trốn trong những bụi lau sậy, đợi đêm xuống mới dám rón rén đi đổi cá lấy chút gạo sống qua ngày.
  • Một hôm, đoàn thuyền rực rỡ của công chúa Tiên Dung đi ngang qua khúc sông làng Chử Xá. Nghe tiếng chiêng trống vang lừng, Chử Đồng Tử hoảng sợ bèn vội vã cào cát trên bãi bồi, vùi mình xuống để ẩn nấp.
  • Tình cờ, Tiên Dung lại chọn đúng bãi cát ấy làm nơi căng màn tắm mát. Nàng giội nước làm trôi lớp cát, để lộ ra thân hình chàng thanh niên nghèo khổ đang thu mình dưới đất.
  • Dù vô cùng kinh ngạc, nhưng khi nghe Chử Đồng Tử kể lại hoàn cảnh đáng thương và tấm lòng hiếu thảo của mình, Tiên Dung không hề nổi giận. Trái lại, nàng cảm động sâu sắc và nhận ra sự sắp đặt diệu kỳ của đất trời. Nàng cho rằng sự phân biệt giàu - nghèo, vua - tôi không thể ngăn cản được tình người, bèn quyết định kết duyên cùng chàng.
  • Vua Hùng hay tin con gái lấy một kẻ đánh cá nghèo hèn thì đùng đùng nổi giận, ra lệnh từ mặt và cấm nàng không được trở về cung điện.
  • Không oán thán, Tiên Dung cùng Chử Đồng Tử quyết định ở lại sống cùng dân thường. Họ không dùng quyền lực hoàng gia mà dùng chính sức lao động để vươn lên.
  • Tận dụng vị trí thuận lợi ven sông sông và những chiếc thuyền gỗ vững chãi, hai vợ chồng bắt đầu kêu gọi người dân lập bến bãi. Họ đem lụa Thu Bồn đổi lấy gốm Thanh Hà, đem lúa gạo đồng bằng đổi lấy sản vật miền ngược.
  • Chẳng bao lâu, từ một bãi lau sậy hoang vắng, nơi đây đã trở thành một khu chợ sầm uất, thương nhân khắp nơi đổ về buôn bán tấp nập. Sự giao thương đã phá vỡ mọi rào cản của thời kỳ bộ lạc khép kín, mở ra một xã hội mới nơi con người tự do trao đổi thành quả lao động và học hỏi lẫn nhau.
  • Sau này, hai vợ chồng còn được một vị đạo sĩ trên núi truyền dạy cho những phương thuốc quý, họ đã dùng nó để chữa bệnh cứu giúp muôn dân.
  • Một đêm nọ, trời đất bỗng nổi gió lớn. Tiên Dung và Chử Đồng Tử cùng tòa thành trù phú của mình từ từ bay lên trời cao, hóa thành những vị thần tiên bảo hộ cho nghề buôn bán.
  • Chỗ đất cũ sụt xuống thành một đầm nước mênh mông, người dân gọi là đầm Dạ Trạch (Đầm Một Đêm). Dù họ đã bay về trời, nhưng tinh thần tự do giao thương, sự bình đẳng và lòng nhân ái mà họ để lại đã vĩnh viễn thay đổi phương thức sống của Dòng giống Lạc Hồng, đưa con người bước vào kỷ nguyên văn minh rực rỡ.

Sự tích Ông Công Ông Táo (Sự tích bếp lửa và sợi dây liên kết với Thiên Cung)

  • Sau khi xã hội bắt đầu biết giao thương buôn bán, đời sống của Dòng giống Lạc Hồng ngày một ấm no. Trong những ngôi nhà gỗ Kim Bồng vững chãi, người dân bắt đầu dùng nồi gốm Thanh Hà để nấu nướng những bữa cơm sum vầy.
  • Thuở ấy, có một đôi vợ chồng là Trọng Cao và Thị Nhi. Dù chăm chỉ làm lụng nhưng mãi không có con, cộng thêm những khó khăn trong cuộc sống khiến Trọng Cao một lần nóng giận đã lớn tiếng đuổi vợ đi.
  • Thị Nhi buồn bã bỏ làng ra đi. Nàng lang thang đến một vùng đất xa xôi và được một người đàn ông hiền lành tên là Phạm Lang cưu mang. Cảm động trước tấm lòng của Phạm Lang, Thị Nhi đã kết duyên cùng chàng.
  • Về phần Trọng Cao, sau khi nguôi giận, chàng vô cùng ân hận. Nhớ thương vợ, chàng rời bỏ nhà cửa, khoác lên mình bộ quần áo rách rưới, cầm gậy đi khắp xóm làng để tìm Thị Nhi.
  • Một ngày cận kề năm mới, Trọng Cao kiệt sức, tình cờ gục ngã đi ăn xin đúng trước cửa nhà Phạm Lang khi người chồng đang đi vắng. Thị Nhi nhận ra người chồng cũ tiều tụy thì vô cùng xót xa, bèn đưa chàng vào nhà, nấu cơm cho ăn.
  • Bất ngờ Phạm Lang trở về. Sợ chồng mới hiểu lầm, Thị Nhi đành giấu Trọng Cao vào trong đống rơm khô ngoài vườn.
  • Nào ngờ, Phạm Lang lại ra vườn châm lửa đốt đống rơm để lấy tro làm phân bón ruộng. Lửa bùng lên dữ dội. Trọng Cao vì không muốn làm liên lụy đến danh tiết của Thị Nhi nên đã cắn răng chịu đựng, không dám kêu la và bị ngọn lửa thiêu rụi.
  • Thị Nhi thấy vậy, đau đớn tột cùng vì mình mà chồng cũ phải chết, liền lao mình vào đống lửa để chết theo. Phạm Lang thấy vợ nhảy vào lửa, vì quá yêu thương vợ cũng lập tức lao vào cứu, nhưng ngọn lửa quá lớn đã cuốn lấy cả ba người.
  • Tình nghĩa sắt son, sẵn sàng hy sinh vì nhau của ba người đã thấu đến tận Thiên Cung – nơi có Ngọc Hoàng ngự trị trên bầu trời cao thẳm.
  • Cảm động trước tấm lòng thiêng liêng ấy, Ngọc Hoàng liền dùng phép thuật hóa phép cho linh hồn cả ba được bất tử, phong làm Táo Quân (Ông Công Ông Táo) cai quản việc bếp núc và gìn giữ hơi ấm cho mọi gia đình ở trần gian.
  • Thân xác họ hóa thành ba hòn đất nung (ba hòn đầu rau) bằng loại đất sét Thanh Hà cứng cáp nhất, luôn chụm đầu vào nhau để cùng đỡ lấy chiếc nồi, giữ cho ngọn lửa gia đình luôn cháy sáng. Thị Nhi ở giữa, hai người chồng ở hai bên, đời đời kiếp kiếp không bao giờ lìa xa.
  • Ngọc Hoàng còn ban lệnh: cứ đến ngày 23 tháng Chạp hằng năm, Táo Quân sẽ cưỡi Cá Chép – loài cá mang trong mình dòng máu vươn lên mạnh mẽ của Thần Rồng Lạc Long Quân – bay từ mặt đất lên Thiên Cung để báo cáo mọi việc tốt xấu của gia đình đó trong năm.
  • Kể từ đó, chiếc bếp lửa ba chân không chỉ là nơi nấu chín thức ăn, mà còn là sợi dây tâm linh thiêng liêng nối liền mặt đất với bầu trời, nhắc nhở con người luôn giữ gìn tình yêu thương, sự sum vầy và lối sống ngay thẳng.

Sự tích Chú Cuội Cung Trăng: Giải thích chu kỳ của mặt trăng, làm nền tảng cho việc đo lường thời gian và mùa màng.

  • Khi con người đã có lửa ấm từ Táo Quân và nhà cửa vững chãi từ thợ mộc Kim Bồng, họ bắt đầu tò mò về những quầng sáng lạ kỳ trên bầu trời đêm. Họ nhận thấy bầu trời không đứng yên mà luôn chuyển động theo một nhịp điệu huyền bí.

  • Thuở ấy, dưới mặt đất có một chàng tiều phu tên là Cuội. Trong một lần đi rừng, Cuội tình cờ phát hiện ra một cái cây lạ có lá xanh mướt, tỏa ra mùi thơm thanh khiết. Đó chính là Cây Đa Quý – loài cây duy nhất còn sót lại mang nhựa sống của Mộc Tinh thuở sơ khai nhưng đã được tịnh hóa bởi ánh sáng Mặt Trời.

  • Cây đa này có phép mầu "cải tử hoàn sinh". Cuội mang cây về trồng trước sân nhà, dùng nước suối trong lành để tưới tắm. Nhờ lá cây quý, Cuội đã cứu sống được rất nhiều người dân trong vùng, mang lại niềm vui cho các xóm làng Lạc Hồng.

  • Cuội luôn dặn vợ: "Cây quý này phải tưới bằng nước sạch, chớ có tưới nước bẩn mà cây bay lên trời mất". Nhưng trong một phút quên lời dặn, người vợ đã vô tình tưới nước bẩn vào gốc cây.

  • Ngay lập tức, mặt đất rung chuyển, rễ cây rời khỏi lòng đất, cả tán lá xòe rộng như một cánh chim Hồng khổng lồ bắt đầu bay vút lên cao. Cuội đi làm về thấy vậy, hốt hoảng lao đến nắm chặt lấy rễ cây hòng giữ lại.

  • Sức mạnh của cây quá lớn, nó kéo theo cả Cuội bay qua tầng mây, xuyên qua màn đêm tĩnh mịch và dừng lại ngay chính giữa tâm điểm của vầng sáng dịu mát nhất trên bầu trời: Cung Trăng.

  • Từ đó, Cuội ngồi dưới gốc cây đa trên cung trăng, dõi mắt nhìn xuống trần gian. Sự hiện diện của Cuội và cây đa đã tạo ra những biến đổi kỳ diệu cho vầng trăng:

  • Mỗi tháng một lần, khi Cuội chăm sóc cây tươi tốt nhất, ánh sáng tỏa ra rực rỡ nhất, con người dưới đất thấy Trăng Tròn.

  • Khi cây thay lá hoặc Cuội nghỉ ngơi, ánh sáng thu hẹp dần, tạo thành hình lưỡi liềm, con người gọi là Trăng Khuyết.

  • Quan sát hình dáng vầng trăng thay đổi, con người bắt đầu học được cách đo lường thời gian. Họ nhận ra rằng cứ sau một chu kỳ trăng tròn rồi lại khuyết, vạn vật trên đất liền và biển cả đều thay đổi:

  • Thủy triều của Cha Rồng dâng lên hạ xuống theo nhịp của Trăng.

  • Cây cối của Mẹ Tiên nảy mầm và đơm hoa cũng nương theo ánh Trăng.

  • Từ đó, con người lập ra lịch pháp, biết chia thời gian thành các tháng, các mùa để kịp gieo trồng hạt giống của Thần Nông và ra khơi đánh cá.

  • Mỗi khi trăng tròn nhất vào mùa thu, trẻ em lại thắp đèn lồng, nhảy múa dưới ánh trăng để chào mừng sự sum vầy và nhắc nhở nhau về bài học chăm sóc những điều quý giá trong cuộc sống.

Sự tích Bông Hoa Mặt Trăng (Nhịp điệu của Nước và Trăng)

  • Ngày xưa, sau khi Dòng giống Lạc Hồng đã lập nên những xóm làng bình yên, những đứa trẻ được Mười hai Nàng Tiên (Mười hai Bà Mụ) nặn ra ngày nào giờ đã bắt đầu khôn lớn.
  • Các Nàng Tiên trên cao nhìn xuống, nhận thấy rằng các cậu bé đang dần sở hữu đôi tay rắn rỏi như Sắt rèn, tấm lưng vững chãi như Núi đá. Còn các cô bé lại mang trong mình sự mềm mại của Lụa tơ, sự bao dung của Nước và Đất mẹ.
  • Nữ thần Mặt Trăng và Mẹ Tiên Âu Cơ quyết định ban tặng cho các bé gái một món quà vô hình, một chiếc chìa khóa để giữ nhịp đập của sự sống vũ trụ. Đó là Sự Kết Nối Với Mặt Trăng.
  • Giống như Mặt Trăng trên trời có lúc khuyết lúc tròn, giống như thủy triều biển khơi có lúc dâng lúc hạ, cơ thể của các bé gái khi bước vào tuổi trưởng thành cũng bắt đầu có một nhịp điệu thiêng liêng như thế.
  • Mỗi tháng một lần, bên trong cơ thể các em sẽ âm thầm nở ra một "Bông Hoa Mặt Trăng". Khi hoa nở, nó giải phóng một dòng suối nhỏ màu hồng đào tịnh tiến chảy ra ngoài.
  • Dòng suối ấy mang theo nhiệm vụ gột rửa cơ thể, dọn dẹp và thay mới lớp "đất phù sa" bên trong, giống hệt như cách dòng sông Thu Bồn mang nước tưới mát và làm phì nhiêu cho đồng ruộng, chuẩn bị một mảnh đất màu mỡ cho những mầm sống trong tương lai rất xa.
  • Khi dòng suối hồng đào xuất hiện, đó là dấu hiệu đáng tự hào cho thấy cô bé ấy đang dần trở thành một người thiếu nữ rực rỡ, mang trong mình năng lượng kiến tạo của Đất Mẹ.
  • Tuy nhiên, việc nở hoa và gột rửa cũng lấy đi của các bạn nữ một chút sức lực. Trong những ngày ấy, cơ thể các bạn giống như một hạt mầm đang thu mình lại để nghỉ ngơi, cần được ấp ủ, giữ ấm và tĩnh lặng.
  • Vua Hùng khi biết được điều này đã truyền dạy cho tất cả các cậu bé, chàng trai trong làng: "Nhịp điệu của dòng suối hồng đào là cội nguồn của sự sống. Những người mang sức mạnh của Núi và Sắt phải có nhiệm vụ chở che, tôn trọng và giúp đỡ các bạn nữ trong những ngày cơ thể họ đang làm việc vất vả."
  • Từ đó, trong các xóm làng Lạc Hồng, không một ai trêu chọc sự thay đổi ấy. Mọi người đều hiểu rằng, sự tĩnh lặng của các bạn nữ trong những ngày "Hoa Mặt Trăng" nở chính là nhịp thở của tự nhiên, là sự chuẩn bị thiêng liêng cho những điều kỳ diệu nhất của thế giới loài người.

Cóc kiện Trời: Giải thích hiện tượng thời tiết.

  • Kể từ ngày chú Cuội bay về trời, con người đã biết nhìn trăng để đoán định mùa màng. Thế nhưng, có một năm, tàn dư của hơi nóng từ thuở Khai Thiên Lập Địa bỗng trỗi dậy mạnh mẽ. Suốt nhiều tháng ròng, bầu trời nắng gắt như đổ lửa, không một giọt mưa nào rơi xuống.
  • Những cánh đồng lúa của Thần Nông khô nứt nẻ, những nương dâu của Bà Thu Bồn héo rũ, lò gốm Thanh Hà và xưởng mộc Kim Bồng cũng phải tạm ngừng vì thiếu nước sinh hoạt. Cả Dòng giống Lạc Hồng và muông thú đều lâm vào cảnh khốn cùng.
  • Lúc bấy giờ, có một chú Cóc nhỏ bé, da dẻ sần sùi nhưng mang trong mình lòng can đảm vô song. Cóc quyết định lên Thiên Cung để hỏi tội Ngọc Hoàng, đòi lại nguồn nước cho sự sống.
  • Trên đường đi, Cóc gặp Cua, Gấu, Cọp, Ong và Cáo. Tất cả đều đang kiệt sức vì khát. Nghe mục đích cao cả của Cóc, họ đồng lòng đi theo, tạo thành một đội quân nhỏ bé nhưng đoàn kết chặt chẽ như những con đê Sơn Tinh ngăn lũ năm nào.
  • Đến cổng nhà Trời, thấy cảnh lính canh lơ là, bên trong thì yến tiệc linh đình mà chẳng đoái hoài gì đến hạ giới lầm than, Cóc bình tĩnh bày mưu tính kế: "Cua vào chum nước, Ong đợi sau cánh cửa, Cáo, Gấu và Cọp phục sẵn hai bên. Hễ tôi nghiến răng, tất cả hãy cùng xông ra!"
  • Cóc bước vào điện rồng, đánh ba hồi trống vang dội khiến Ngọc Hoàng kinh ngạc. Thấy một chú Cóc nhỏ bé dám làm loạn, Ngọc Hoàng sai Gà ra mổ, nhưng Cáo đã xông ra vồ lấy Gà. Ngọc Hoàng sai Chó ra đuổi Cáo, Gấu đã chờ sẵn để tát Chó ngã nhào.
  • Quá tức giận, Ngọc Hoàng sai Thần Sét – vị thần mang sức mạnh sấm sét từ thuở Rồng mới xuất hiện – ra trị tội. Nhưng Thần Sét vừa bước ra cửa đã bị Ong đốt túi bụi, nhảy vào chum nước tránh nạn thì bị Cua kẹp đau điếng. Cuối cùng, Cọp gầm lên một tiếng vang động khiến cả Thiên Cung rung chuyển.
  • Ngọc Hoàng hiểu rằng sức mạnh của sự đoàn kết và lẽ phải là không thể khuất phục. Ngài vội vàng mời Cóc vào, lắng nghe lời kêu cầu của hạ giới.
  • Ngọc Hoàng thừa nhận sai sót của Thiên Đình và phán rằng: "Từ nay về sau, hễ khi nào trời hạn hán, nhà ngươi chỉ cần nghiến răng báo hiệu, ta sẽ lập tức sai Thần Mưa trút nước xuống thế gian."
  • Cóc và các bạn trở về trong niềm vui sướng. Ngay khi họ vừa đặt chân xuống mặt đất, những đám mây đen kéo đến, mưa tầm tã rơi xuống, tưới mát cho ruộng đồng, hồi sinh sự sống cho muông thú và con người.
  • Từ đó, mỗi khi nghe tiếng Cóc nghiến răng "crack... crack...", người dân Lạc Hồng lại mỉm cười bảo nhau: "Cậu ông Trời đang gọi mưa đấy!". Câu chuyện không chỉ giải thích hiện tượng sấm chớp và mưa rơi, mà còn nhắc nhở con người rằng: dù bé nhỏ đến đâu, nếu có ý chí và sự đoàn kết, chúng ta đều có thể thay đổi được cả ý trời.

Sự tích 12 con giáp: Thiết lập lịch pháp.

  • Kể từ ngày Cóc lên kiện Trời và chú Cuội bay về Trăng, con người dưới hạ giới đã biết nhìn lên bầu trời để đoán định mưa nắng, tháng ngày. Tuy nhiên, thời gian vẫn trôi đi như một dòng chảy vô tận, con người chưa biết cách đặt tên cho từng năm để ghi nhớ những sự kiện trọng đại của dòng tộc.
  • Thấu hiểu điều đó, Ngọc Hoàng trên Thiên Cung quyết định tổ chức một cuộc thi tài đại quy mô. Ngài ban chiếu chỉ xuống hạ giới: "Ta sẽ chọn ra 12 loài vật xứng đáng nhất để đặt tên cho từng năm. Loài vật nào vượt qua dòng sông Thu Bồn cuồn cuộn và về đích sớm nhất sẽ được đứng vào hàng ngũ 12 con giáp."
  • Nhận được tin, muôn loài náo nức kéo về bên bờ sông. Con sông Thu Bồn lúc này đang mùa nước lớn, sóng vỗ dạt dào như nhắc lại uy lực của Thủy Tinh năm xưa.
  • Chuột và Mèo vốn bơi kém nên đã nịnh anh Trâu hiền lành cho cưỡi nhờ trên lưng. Khi gần đến bờ, Chuột tinh quái đẩy Mèo xuống nước rồi nhảy tót lên bờ trước, giành vị trí thứ nhất (Tý). Trâu cần mẫn đứng thứ hai (Sửu).
  • Hổ mạnh mẽ bơi qua sóng dữ về thứ ba (Dần). Thỏ (ở một số vùng là Mèo) dùng trí thông minh nhảy qua những phiến đá ven sông về thứ tư (Mão).
  • Rồng mang sức mạnh thiêng liêng từ Cha Lạc Long Quân, dẫu bận đi phun mưa cứu dân hạn hán nên về thứ năm (Thìn). Rắn lanh lẹ về thứ sáu (Tỵ). Ngựa phi nước đại về thứ bảy (Ngọ). Dê, Khỉ và Gà cùng nhau tìm thấy một chiếc bè gỗ Kim Bồng trôi dạt, cùng đoàn kết chèo lái về đích, lần lượt đứng vị trí tám, chín, mười (Mùi, Thân, Dậu).
  • Chó vì mải chơi đùa dưới nước nên về thứ mười một (Tuất). Cuối cùng là Lợn, vì đói bụng dừng lại ăn rồi ngủ quên nên về thứ mười hai (Hợi).
  • Cuộc thi kết thúc, Ngọc Hoàng chính thức công bố bảng tên 12 con giáp. Ngài ban cho mỗi loài vật một vì sao chiếu mệnh để canh giữ thời gian cho trần gian.
  • Con người dưới hạ giới từ đó bắt đầu dùng tên 12 loài vật này để tính năm, tính tháng. Họ nhận ra rằng mỗi năm mang tên một loài vật đều có những đặc điểm riêng: năm Rồng thường có mưa thuận gió hòa, năm Trâu con người cần cù cày cấy, năm Gà tiếng gáy báo hiệu sự thức tỉnh.
  • Với sự ra đời của 12 con giáp, Dòng giống Lạc Hồng không còn lạc lối trong dòng thời gian nữa. Họ bắt đầu biết lập kế hoạch cho tương lai, biết nhớ ngày giỗ tổ tiên và cùng nhau đón chờ những vòng quay mới của đất trời trong sự hòa hợp giữa con người, muôn loài và các vị thần.

Sự tích cây lúa: Câu chuyện đời sống sinh hoạt quanh cây lúa.

  • Kể từ khi Lang Liêu tìm ra cách làm bánh chưng, bánh dày từ hạt gạo, Dòng giống Lạc Hồng càng thêm trân trọng loài cây mà Thần Nông đã ban tặng. Thuở ấy, cây lúa không nhỏ bé như bây giờ. Thân lúa cao lớn, lá dài xanh mướt, và đặc biệt là những hạt lúa to tròn như quả trứng vịt, vỏ ngoài vàng óng tựa như được đúc từ những lò lính của Thánh Gióng.
  • Lạ lùng hơn nữa, con người khi ấy chẳng cần gieo neo cày cấy vất vả. Hễ đến mùa gặt, những hạt lúa khổng lồ ấy sẽ tự mình lăn từ cánh đồng về tận cửa nhà. Dân làng chỉ việc quét dọn nhà cửa sạch sẽ, mở rộng cửa kho để đón "hạt ngọc" vào nhà. Cuộc sống của Dòng giống Lạc Hồng nhờ đó mà thảnh thơi, no ấm vô cùng.
  • Thế nhưng, khi cái bụng đã no và cuộc sống trở nên quá dễ dàng, lòng biết ơn của con người dần phai nhạt. Họ bắt đầu lười biếng và không còn trân trọng hạt gạo như thuở ban đầu.
  • Một năm nọ, mùa gặt đến. Theo lệ cũ, những hạt lúa vàng óng ả lại lũ lượt nối đuôi nhau lăn về làng. Trong một ngôi nhà nọ, người chủ nhà mải mê vui chơi, chưa kịp quét dọn sân sướng. Khi thấy lúa lăn vào sân, bà ta không những không vui mừng mà còn cáu kỉnh, cầm chiếc chổi tre – vật dụng làm từ những bụi tre đằng ngà của Thánh Gióng – quật mạnh vào những hạt lúa và quát: "Lũ lúa này thật phiền phức! Ta chưa quét nhà xong, sao các ngươi đã vội vờn quanh chân ta?"
  • Tiếng chổi tre quật xuống "chát, chát!". Những hạt lúa khổng lồ bị đánh đau, vỡ tan thành nghìn mảnh nhỏ li ti. Hạt lúa uất ức thốt lên tiếng khóc nghẹn ngào: "Chúng ta là tinh hoa của Đất và Trời, là máu thịt của Thần Nông ban tặng để nuôi sống con người. Các ngươi đã không biết ơn lại còn rẻ rúng, từ nay chúng ta sẽ không bao giờ tự lăn về nhà các ngươi nữa!"
  • Nói rồi, những mảnh lúa vỡ vụn bay vút ra đồng, ẩn mình vào trong những ngọn cỏ sắc nhọn. Kể từ đó, cây lúa trở nên nhỏ bé, hạt lúa chỉ còn bằng đầu ngón tay, ẩn sâu trong lớp vỏ trấu cứng cáp để tự bảo vệ mình.
  • Con người bàng hoàng hối lỗi nhưng đã muộn. Muốn có hạt gạo, họ phải học lại từ đầu: dùng cày bừa sắt để lật đất, dùng nước sông Thu Bồn để tưới tiêu, và dùng đôi bàn tay lao động của mình để gieo hạt, nhổ cỏ, bón phân. Cây lúa không còn là món quà sẵn có, mà trở thành thành quả của mồ hôi và nước mắt.
  • Tuy nhiên, chính trong sự vất vả ấy, Dòng giống Lạc Hồng lại tìm thấy niềm vui của lao động. Họ học được nhịp điệu của mùa vụ theo 12 con giáp, biết đoàn kết đắp đê ngăn Thủy Tinh để bảo vệ lúa non. Mỗi hạt gạo giờ đây không chỉ là thức ăn, mà là biểu tượng của sự kiên trì và lòng trân trọng đối với mẹ thiên nhiên.
  • Và cứ mỗi mùa gặt, tiếng cười nói rộn ràng trên cánh đồng lại vang lên, nhắc nhở con người rằng: "Hạt gạo là hạt ngọc", và chỉ có lao động chân chính mới mang lại sự no ấm bền lâu.

Sự tích con dế: Bài học nhỏ về loài vật.(để sau này kết nối với dế mèn phiêu lưu ký)

  • Sau khi cây lúa trở nên nhỏ bé và cần sự chăm sóc của con người, các xóm làng của Dòng giống Lạc Hồng bắt đầu rộn ràng tiếng cười nói trên những cánh đồng phù sa sông Thu Bồn. Giữa muôn vàn loài vật được Mười Hai Bà Mụ nặn ra, có một loài vật nhỏ bé, trầm lặng, mang lớp áo màu nâu đất giản dị, đó chính là tổ tiên của loài Dế.
  • Thuở ấy, Dế không thích bay nhảy trên cao như chim Hồng, cũng không thích bơi lội dưới nước như dòng máu Rồng. Dế có một tâm hồn cô độc nhưng đầy khao khát khám phá. Chú thường lẩn khuất dưới những gốc lúa hạt ngọc, lắng nghe tiếng thì thầm của đất mẹ và nhịp điệu của những cơn mưa từ Cóc kiện Trời.
  • Dế mang trong mình một ước mơ lớn lao: muốn hiểu được bí mật của lòng đất và muốn có một tiếng nói riêng để chia sẻ với thế gian. Chú bắt đầu dùng đôi càng sắc bén – được tôi luyện từ ý chí kiên cường của những người thợ rèn sắt thời Thánh Gióng – để tự tay đào đắp cho mình một "pháo đài" nhỏ dưới lòng đất.
  • Căn hầm của Dế không lớn như những ngôi nhà gỗ Kim Bồng, nhưng lại vô cùng tinh xảo với nhiều ngõ ngách, cửa trước cửa sau để phòng tránh kẻ thù. Đây chính là bài học đầu tiên về việc tự xây dựng không gian riêng cho chính mình.
  • Một đêm trăng tròn sau mùa gặt, khi chú Cuội đang ngồi dưới gốc cây đa nhìn xuống trần gian, Dế cảm thấy lòng mình rạo rực. Chú vươn đôi cánh mỏng, cọ hai chiếc cánh vào nhau tạo thành những tiếng vang "ri... ri... ri...".
  • Thật kỳ diệu, âm thanh ấy không chỉ là tiếng động thông thường. Nó mang theo hơi ấm của bếp lửa Ông Công Ông Táo, sự dẻo dai của lụa Thu Bồn và cả sự kiên cường của người nông dân trên cánh đồng. Tiếng dế gáy vang vọng khắp bờ bụi, xuyên qua các kẽ đất, báo hiệu cho con người rằng mùa màng đang vào độ nghỉ ngơi.
  • Ngọc Hoàng từ trên Thiên Cung nghe thấy tiếng đàn kỳ lạ ấy bèn phán rằng: "Con vật nhỏ bé kia tuy sống chui rúc trong đất tối nhưng lại biết tự lập và có tiếng hát làm ấm lòng nhân thế. Ta ban cho loài dế đôi chân nhảy cao để sau này có thể đi xa, khám phá muôn nơi."
  • Kể từ đó, con dế không chỉ quanh quẩn dưới gốc lúa mà bắt đầu những hành trình phiêu lưu nhỏ bé của mình qua các bờ cỏ, bãi đất. Tiếng gáy của dế trở thành người bạn đồng hành với những người con Lạc Hồng trong đêm vắng, nhắc nhở họ rằng ngay cả một sinh linh nhỏ nhất cũng có thể tự xây dựng cơ đồ và có tiếng nói riêng của mình.
  • Những hậu duệ sau này của loài dế dũng cảm ấy, mang theo chiếc áo bào nâu bóng bẩy và đôi càng mạnh mẽ, sẽ còn viết tiếp những chương sử phiêu lưu lừng lẫy, đi khắp thế gian để tìm kiếm nghĩa hiệp và sự trưởng thành.

Trí khôn của ta đây: Khẳng định con người đã hoàn toàn làm chủ muông thú và tự nhiên.

  • Kể từ sau cuộc thi 12 con giáp, muôn loài sống hòa hợp dưới sự quan sát của Thiên Cung. Con người – dòng dõi Lạc Hồng – lúc này đã trở thành những người thợ cày cần mẫn trên những cánh đồng phù sa ven sông Thu Bồn. Họ sử dụng những chiếc cày bằng sắt rèn từ thời Thánh Gióng và nhờ sự giúp đỡ của anh Trâu hiền lành – người đứng thứ hai trong hàng can chi.
  • Một ngày nọ, khi mặt trời đang lên cao, một con Hổ mang bộ lông vàng óng, mượt mà từ rừng sâu bước ra. Hổ là loài vật mạnh mẽ, mang uy lực của rừng già, nhưng nó vô cùng ngạc nhiên khi thấy anh Trâu to lớn, sừng sững lại chịu để một con người nhỏ bé điều khiển, bắt kéo cày nặng nhọc.
  • Đợi lúc nghỉ tay, Hổ bèn lân la đến hỏi Trâu: "Này anh Trâu, anh sức dài vai rộng, sừng sắc như gươm, sao lại chịu để cái sinh vật nhỏ bé kia sai khiến như thế?"
  • Trâu chậm rãi nhai cỏ rồi trả lời: "Anh không biết đấy thôi, con người tuy nhỏ bé nhưng họ có một thứ sức mạnh vô cùng đáng sợ, gọi là 'Trí khôn'."
  • Hổ nghe thấy hai chữ "Trí khôn" thì tò mò lắm. Nó vốn tự phụ là chúa tể rừng xanh, có sức mạnh vô song nên muốn xem "Trí khôn" mặt mũi ra sao. Hổ bèn tiến lại gần người thợ cày và gầm nhẹ: "Này người, hãy cho ta xem cái 'Trí khôn' của ngươi đi!"
  • Người thợ cày mỉm cười, bình tĩnh đáp: "Trí khôn tôi để ở nhà mất rồi. Để tôi về lấy cho ông xem. Nhưng tôi sợ khi tôi đi, ông sẽ ăn thịt mất Trâu của tôi. Vậy ông hãy để tôi buộc tạm ông vào gốc cây này cho yên tâm."
  • Hổ vì quá khao khát muốn biết về sức mạnh bí ẩn ấy nên đồng ý ngay. Người thợ cày lấy những sợi dây thừng bện bằng xơ gai bền chắc – kỹ thuật học được từ thời Bà Thu Bồn dạy dệt vải – trói chặt Hổ vào gốc cây đa già.
  • Sau khi đã buộc chắc, người thợ cày không đi lấy gì cả. Chàng lấy rơm khô chất xung quanh Hổ, rồi dùng đá lửa từ thời Khai Thiên Lập Địa châm lửa đốt. Lửa bùng cháy dữ dội, người thợ cày vừa quật roi vừa quát lớn: "Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây!"
  • Hổ bị lửa đốt đau đớn, gầm rú vang trời. Nhờ sức mạnh phi thường, Hổ vùng vẫy dữ dội làm đứt dây thừng rồi lao thẳng vào rừng sâu. Những vết cháy sém của sợi dây và lửa năm ấy đã để lại những vằn đen vĩnh viễn trên bộ lông vàng của Hổ cho đến tận ngày nay.
  • Anh Trâu chứng kiến cảnh ấy, thích thú quá nên lăn ra cười. Chẳng may Trâu va hàm vào tảng đá vôi xây dựng khiến toàn bộ răng cửa hàm trên bị gãy mất. Vì vậy mà loài trâu bây giờ chẳng còn cái răng cửa hàm trên nào cả.
  • Câu chuyện loan đi khắp rừng xanh và đồng ruộng. Muôn loài từ đó đều nể phục con người. Họ hiểu rằng, dù không có nanh vuốt sắc bén hay sức mạnh khổng lồ, nhưng với Trí khôn – sự kết hợp giữa kiến thức lao động, khả năng chế tạo công cụ và tư duy sắc sảo – con người đã hoàn toàn làm chủ được tự nhiên và muôn thú.
  • Từ đây, Dòng giống Lạc Hồng bước vào một thời đại mới: thời đại của trí tuệ, nơi họ không chỉ sinh tồn mà còn kiến tạo nên một nền văn minh bền vững trên mảnh đất tổ tiên.

Sự tích cây vú sữa: Bài học về tình mẫu tử.

  • Trong một ngôi nhà gỗ Kim Bồng nhỏ nhắn ven dòng Thu Bồn, có hai mẹ con sống nương tựa vào nhau. Người mẹ hằng ngày tần tảo dệt lụa, trồng lúa hạt ngọc để nuôi con. Cậu con trai tuy thông minh nhưng vì được mẹ quá nuông chiều nên rất ham chơi và bướng bỉnh.
  • Một lần, bị mẹ mắng vì mải chơi bỏ quên việc nhà, cậu bé hậm hực bỏ đi. Cậu đi mãi, băng qua những xóm làng nghề gốm, nghề mộc, đi đến tận những nơi xa lạ mà chẳng hề nghĩ đến người mẹ đang lo lắng đợi chờ ở nhà.
  • Người mẹ ở nhà nhớ con khôn xiết. Bà ngồi bên bếp lửa Ông Công Ông Táo chờ đợi, rồi lại ra bến sông Thu Bồn ngóng trông, nước mắt rơi lã chã thấm xuống đất đai. Bà đợi mãi, đợi mãi cho đến khi kiệt sức, bà ngã xuống bên cạnh bậc cửa nhà và hóa thành một loài cây lạ, cành lá sum suê như đôi tay đang vươn ra che chở.
  • Lại nói về cậu con trai, sau bao ngày đi lạc, chịu đói chịu rét, cậu bị những đứa trẻ khác trêu chọc và bắt nạt. Lúc này, cậu mới nhớ đến hơi ấm của bếp lửa nhà mình, nhớ đến những bát cơm trắng thơm mùi lúa mới và đặc biệt là nhớ vòng tay ấm áp của mẹ.
  • Cậu tìm đường trở về nhà. Cảnh vật vẫn vậy, ngôi nhà gỗ vẫn đứng đó, nhưng mẹ đâu chẳng thấy. Cậu gào khóc thảm thiết, ôm lấy cái cây lạ bên bậc cửa mà gọi: "Mẹ ơi! Mẹ đâu rồi?".
  • Như cảm nhận được nỗi đau của người con, cái cây rung rinh cành lá. Một bông hoa nhỏ xíu nở ra, rồi kết thành quả, to tròn và bóng mịn như da mặt mẹ. Quả chín rất nhanh, rơi vào lòng bàn tay cậu bé.
  • Cậu bé cắn một miếng, một dòng sữa trắng trong, ngọt lịm và thơm nồng như sữa mẹ trào ra, nuôi dưỡng cơ thể đang kiệt sức của cậu. Cậu nhìn lên tán lá, thấy một mặt lá xanh mướt như mắt mẹ hiền, mặt kia đỏ hoe như mắt mẹ khóc chờ con.
  • Cậu bé hối hận vô cùng, ôm lấy thân cây mà khóc. Cậu hiểu rằng mẹ đã hóa thân thành loài cây này để tiếp tục bảo vệ và nuôi nấng cậu ngay cả khi bà không còn nữa. Chàng trai từ đó trở nên chăm chỉ, biết trân trọng tình cảm gia đình và yêu thương mọi người xung quanh.
  • Cậu mang hạt giống của loài cây ấy đi khắp các xóm làng Lạc Hồng để gieo trồng. Người dân gọi đó là Cây Vú Sữa – loài cây của tình mẫu tử thiêng liêng.
  • Câu chuyện về cây vú sữa là lời nhắc nhở dịu dàng nhất dành cho những người con của Dòng giống Lạc Hồng: rằng dù ta có đi xa bao nhiêu, có trí khôn vĩ đại thế nào, thì tình yêu thương và sự bao dung của cha mẹ vẫn là cội nguồn ấm áp nhất, là "dòng sữa" tinh thần nuôi lớn linh hồn ta.

Sự tích cây khế: Bài học về lòng tham, nhân quả và tình anh em.

  • Tại một ngôi làng nọ ven hạ lưu sông Thu Bồn, có hai anh em nhà kia cha mẹ mất sớm, để lại một khối tài sản lớn nhờ nghề làm mộc Kim Bồng và dệt lụa. Người anh tham lam, ích kỷ, còn người em thì hiền lành, chịu khó, luôn mang trong mình đức tính tự lập của Mai An Tiêm thuở trước.
  • Sau khi cưới vợ, người anh muốn chiếm hết gia sản nên chỉ chia cho em một túp lều tranh xiêu vẹo bên cạnh một cây khế già cỗi. Người em không hề oán than, hằng ngày chăm chỉ vớt đất sét Thanh Hà bồi đắp gốc cây, dùng nước sông Thu Bồn tưới tắm cho cây khế xanh tốt.
  • Đến mùa, cây khế bỗng ra hoa kết quả sai trĩu cành, những quả khế vàng mọng như được dát bằng ánh sáng Mặt Trời. Bất ngờ, một con chim khổng lồ bay đến ăn khế. Con chim ấy có sải cánh rộng như cánh chim Hồng của mẹ Âu Cơ, bộ lông rực rỡ mang hơi ấm của ngọn Lửa Bảy Màu từ thuở Khai Thiên Lập Địa.
  • Thấy chim ăn khế, người em than thở: "Chim ơi, tôi chỉ có mỗi cây khế này để đổi gạo, chim ăn hết gia đình tôi biết sống sao?". Con chim bỗng cất tiếng nói vang vọng như tiếng chuông đồng: "Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng."
  • Tin vào lời chim, người em nhờ vợ lấy tấm lụa tự dệt may một chiếc túi đúng số đo ba gang tay – con số đo lường đầu tiên mà con người học được để giữ sự cân bằng với tự nhiên.
  • Chim thần đưa người em bay qua biển Đông, đến một hòn đảo đầy châu báu rực rỡ nằm giữa những rạn san hô nơi cha Lạc Long Quân cai quản. Người em chỉ lấy đúng đầy túi ba gang rồi trở về. Từ đó, gia đình em trở nên giàu có, nhưng vẫn giữ lối sống giản dị, thường xuyên dùng tiền bạc giúp đỡ dân làng và các thợ thủ công nghèo khó.
  • Người anh thấy em giàu lên thì sinh lòng đố kỵ, ép em đổi cây khế lấy toàn bộ gia sản của mình. Khi chim thần đến ăn khế và cũng dặn may túi ba gang, người anh vì lòng tham vô độ đã bắt vợ may một chiếc túi lớn gấp mười lần, to như cái thúng lớn.
  • Lúc lên đảo thần, người anh hoa mắt trước vàng bạc, nhét đầy túi to, lại còn giấu thêm vào người khiến chim thần vô cùng nặng nề khi cất cánh. Đang bay trên biển rộng, một cơn gió xoáy – tàn tích cơn giận dữ của Thủy Tinh – nổi lên. Chim thần bảo người anh hãy vứt bớt vàng bạc để nhẹ cánh, nhưng người anh vẫn khăng khăng ôm chặt lấy túi vàng.
  • Vì quá nặng và gió lớn, người anh cùng túi vàng quá khổ đã rơi xuống biển sâu. Biển cả bao dung nhưng cũng vô cùng công bằng, đã nhấn chìm lòng tham xuống đáy nước.
  • Chim thần bay về trời, hóa thành một vì sao trên bầu trời đêm để cùng chú Cuội trông coi hạ giới. Câu chuyện về cây khế và túi ba gang trở thành bài học nằm lòng của Dòng giống Lạc Hồng về sự công bằng: "Ai chăm chỉ, thật thà sẽ được trời đất bù đắp; kẻ tham lam, dối trá sẽ phải tự gánh lấy hậu quả."

Cây tre trăm đốt: Đấu tranh giai cấp sơ khai (phú ông - anh nông dân) và niềm tin vào sự công bằng.

  • Khi xã hội của Dòng giống Lạc Hồng đã ổn định với những bến bãi giao thương sầm uất, sự phân hóa giàu nghèo bắt đầu xuất hiện. Ở một làng nọ, có một gã Phú ông giàu nứt đố đổ vách nhờ sở hữu nhiều ruộng lúa và những xưởng mộc lớn, nhưng bản tính lại vô cùng keo kiệt và gian xảo.
  • Trong nhà Phú ông có anh Khoai – một chàng trai mồ côi hiền lành, mang sức khỏe của đá núi và đôi bàn tay khéo léo của thợ mộc Kim Bồng. Anh Khoai làm việc quần quật suốt ngày đêm, từ cày bừa trên đồng của Thần Nông đến việc đục đẽo gỗ dựng nhà cho Phú ông.
  • Để lợi dụng sức lao động của anh, Phú ông hứa hão: "Con hãy gắng công làm lụng cho ta thêm ba năm nữa, ta sẽ gả con gái cho." Anh Khoai tin lời, càng dốc lòng làm việc, mong mỏi xây dựng một tổ ấm gia đình nhỏ dưới nếp nhà gỗ vững chãi.
  • Ba năm trôi qua, gia sản Phú ông tăng lên gấp bội, nhưng lão lại nuốt lời, định gả con gái cho một gã nhà giàu khác trong vùng. Để tống khứ anh Khoai, lão ra một điều kiện không tưởng: "Muốn cưới con ta, con phải lên rừng tìm cho được một cây tre trăm đốt mang về đây làm đũa cho cả làng ăn cưới."
  • Anh Khoai vác rìu sắt Thánh Gióng lên rừng sâu. Chàng đi khắp các bụi tre xanh ngắt – vốn là hậu duệ của bụi tre đằng ngà năm xưa – nhưng tìm mãi chẳng thấy cây tre nào có đến trăm đốt. Chàng ngồi gục bên gốc tre, nước mắt rơi xuống lã chã vì sự bất công.
  • Giữa lúc ấy, một làn khói trắng bay lên từ bếp lửa thiêng của Ông Công Ông Táo, hóa thành một cụ già râu tóc bạc phơ, ánh mắt hiền từ như sao đêm. Cụ bảo: "Con đừng khóc, hãy chặt cho đủ một trăm đốt tre mang về đây."
  • Khi anh Khoai chặt xong, cụ dạy cho chàng hai câu thần chú mang sức mạnh kết dính còn diệu kỳ hơn cả vữa vôi xây dựng: "Khắc nhập, khắc nhập!" lập tức một trăm đốt tre rời rạc dính liền lại thành một cây tre cao vút đến tận mây xanh. Khi hô "Khắc xuất, khắc xuất!", cây tre lại rời ra từng đoạn để chàng dễ dàng mang về.
  • Anh Khoai gánh trăm đốt tre về làng đúng lúc đám cưới đang tấp nập. Phú ông thấy anh không mang theo cây tre trăm đốt liền lớn tiếng nhạo báng. Không nói một lời, anh Khoai xếp trăm đốt tre dưới sân và đọc: "Khắc nhập, khắc nhập!".
  • Một cây tre khổng lồ hiện ra, Phú ông vì tò mò chạm tay vào cũng bị dính chặt luôn vào thân tre. Những kẻ hùa theo lão cũng lần lượt bị "khắc nhập", dính thành một chuỗi, không cách nào gỡ ra được. Trước sự chứng kiến của cả dân làng, anh Khoai bắt Phú ông phải thực hiện lời hứa và chia sẻ bớt của cải cho những người thợ nghèo khổ.
  • Chỉ khi Phú ông van xin và cam kết sửa đổi, anh Khoai mới đọc "Khắc xuất, khắc xuất!" để giải phóng cho lão.
  • Từ đó, anh Khoai và con gái Phú ông sống hạnh phúc, cùng nhau gìn giữ nghề mộc và giúp đỡ bà con lối xóm. Cây tre trăm đốt trở thành biểu tượng của sự ngay thẳng, lòng trung thực và niềm tin bất diệt rằng: giữa cuộc đời đầy rẫy những mưu mô, người hiền lành dẫu bé nhỏ nhưng nếu có ý chí và sự trợ giúp của thần linh, nhất định sẽ chiến thắng gian tà.

Lời kết cho Việt Huyền Sử Ký:

Câu chuyện về anh Khoai và cây tre trăm đốt đã khép lại hành trình của chúng ta. Từ một "Hạt mầm ánh sáng" thuở ban sơ, trải qua những cuộc đại chiến của Rồng - Tiên, qua sự kiến tạo của các đời Vua Hùng và sự hình thành các làng nghề truyền thống, con người đã trưởng thành. Các em học sinh lớp 3 giờ đây đã có thể tự hào về nguồn gốc Dòng giống Lạc Hồng của mình – một dân tộc không chỉ mạnh mẽ, khéo léo mà còn mang trái tim nhân hậu, luôn đấu tranh cho lẽ phải và sự công bằng.